vanban.org

Bản án 148/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phương H về việc ly hôn đối với ông Lý Hải Đ.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Phương H và ông Lý Hải Đ được ly hôn. Về con chung: Giao cháu Lý An N, sinh ngày 30/5/2014 (giới tính nữ) cho bà Nguyễn Phương H tiếp tục nuôi dạy, ông Lý Hải Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với số tiền tương ứng ½ mức lương căn bản/tháng, tính thời điểm hiện tại là 900.000 đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Phương H yêu cầu được ly hôn với ông Lý Hải Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phương H về việc ly hôn đối với ông Lý Hải Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-7-2023
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Chí Linh

2. Ông Phan Minh Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023, về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phương H, sinh năm 1989 (xin vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Lý Hải Đ, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trình bày của bà Nguyễn Phương H tại đơn khởi kiện ngày 22/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Phương H và ông Lý Hải Đ chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/6/2010. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, bà H và ông Đ đã ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Xét thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên bà Nguyễn Phương H yêu cầu được ly hôn với chồng là ông Lý Hải Đ.

Về con chung: Bà Nguyễn Phương H và ông Lý Hải có 01 người con chung tên Lý An N, sinh ngày 30/5/2014 (giới tính nữ), hiện do bà H đang nuôi dạy. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con theo mức cấp dưỡng do pháp luật quy định.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Phương H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chồng là ông Lý Hải Đ. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Ông Lý Hải Đ có nơi cư trú tại khóm B, thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Lý Hải Đ đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lí do, bà Nguyễn Phương H xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, xét xử vắng mặt bà H và ông Đ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Hôn nhân: Bà Nguyễn Phương H và ông Lý Hải Đ chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/6/2010. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, bà H và ông Đ đã ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông Đ. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông Đ đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống, bà H xác định bà và ông Đ không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Đ. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để ông bà có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả, do ông Đ vắng mặt không có lí do, bà H vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà H và ông Đ được ly hôn là phù hợp.

Về con chung: Bà Nguyễn Phương H và ông Lý Hải Đ có 01 người con chung tên Lý An N, sinh ngày 30/5/2014 (giới tính nữ), hiện do bà H nuôi dạy. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con theo mức cấp dưỡng do pháp luật quy định. Xét thấy, con chung hiện do bà H nuôi dạy, là nữ, đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng sống chung với mẹ nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, ông Đ không có ý kiến phản hồi về vấn đề con chung nên cần chấp chấp nhận cho bà H được tiếp tục nuôi con là phù hợp. Ông Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với số tiền tương ứng ½ mức lương cơ bản/tháng, tính thời điểm hiện tại là 900.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng từ ngày bản án có hiệu lực cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

Tài sản chung: Bà H xác định bà và ông Đ không có tài sản chung không đặt ra yêu cầu xem xét, ông Đ không có ý kiến gì phản hổi về tài sản chung. Do đó, không xem xét là phù hợp.

Về nợ chung: Bà H xác định vợ chồng không có nợ chung. Quá trình giải quyết vụ án, không ai đặt ra yêu cầu xem xét về nợ chung của vợ chồng, ông Đ không có ý kiến gì về vấn đề này nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm; Ông Đ phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Phương H về việc ly hôn đối với ông Lý Hải Đ.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Phương H và ông Lý Hải Đ được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Lý An N, sinh ngày 30/5/2014 (giới tính nữ) cho bà Nguyễn Phương H tiếp tục nuôi dạy, ông Lý Hải Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với số tiền tương ứng ½ mức lương căn bản/tháng, tính thời điểm hiện tại là 900.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng từ ngày bản án có hiệu lực cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

Tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định không có nên không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Phương H phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); Ông Lý Hải Đ nộp án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vào ngày 09 tháng 3 năm 2023, bà H có dự nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003439 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, đối trừ và chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự có mặt biết có quyền quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Cỡ chữ