- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ánh Hồng và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Ánh H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 148/2022/HS-ST Ngày: 30 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Vũ Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Hoàng Thị Kim Phượng
+ Ông Phạm Ngọc Lợi
- Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Bích Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: ông Hoàng Tuấn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 144/2022/TLST- HS ngày 14 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Phạm Ánh H sinh năm 1983 tại N; nơi cư trú: số nhà H, đường N, phố T, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quang B và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: chưa có;
Tiền án: - Bản án số 96/2013/HSST ngày 08/7/2013, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/4/2014;
- Bản án số 35/2014/HSST ngày 30/9/2014, Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 36 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/02/2017;
- Bản án số 88/2018/HSST ngày 14/8/2018, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 36 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2021;
Tiền Sự : không;
Nhân Thân: - Bản án số 98/HSPT ngày 17/12/2003, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 06 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/4/2009;
- Quyết định số 73/QĐ-UBND ngày 20/01/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng. Chấp hành xong ngày 21/01/2013;
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26/QĐ-XLHC ngày 24/6/2014 của Công an thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt Cảnh cáo về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”;
Bị bắt, tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình từ ngày 06/6/2022 đến nay. “Có mặt”.
2. Giang Thành B sinh năm 1979 tại N; nơi cư trú: số B, đường N, phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giang T và bà Nguyễn Th; vợ, con: chưa có; Tiền án: Bản án số 130/2018/HSST ngày 16/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 27 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/7/2020; tiền sự: không;
Nhân thân: - Bản án số 06/HS-ST ngày 04/11/2004, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/8/2006;
- Bản án số 22/2008/HS-ST ngày 25/3/2008, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/6/2010;
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/XLHC ngày 15/12/2011 của Công an phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ-XPHC ngày 20/12/2011của Công an phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 03/1/2012 của Ủy ban nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng. Chấp hành xong ngày 21/01/2014.
Bị bắt, tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình từ ngày 23/11/2022 đến nay. “Có mặt”.
- Bị hại: anh Vũ Xuân Q, sinh năm 1973; nơi cư trú: số nhà 209 đường Triệu Việt Vương, phố Đông Xuân, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. “Vắng mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Lê Thị A sinh năm 1992 ; nơi cư trú: số nhà H, đường N, phố T, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. “Vắng mặt”.
- Người làm chứng: chị Lê Thị A. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Ánh H sinh năm 1983; trú tại phố T, phường B, thành phố N và Giang Thành B sinh năm 1979; trú tại phố T, phường N, thành phố N là bạn bè quen biết nhau. Khoảng 12 giờ ngày 01/3/2022, H đi bộ từ nhà đến nhà B, tại đây H nói với B “Có đi chợ không?” B hiểu là H rủ đi trộm cắp tài sản. B tuy không nói gì nhưng ngầm hiểu và đồng ý cùng H đi trộm cắp tài sản. B lấy xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu bạc, không đeo biển kiểm soát chở H đi vòng quanh địa bàn phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình tìm tài sản sơ hở của người dân để trộm cắp. Khoảng 12 giờ 30 phút khi đi qua số nhà H, đường Triệu Việt Vương, phố Đông Xuân, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình thấy có một chiếc xe đạp điện màu đen, nhãn hiệu CAP A của anh Vũ Xuân Q sinh năm 1973, địa chỉ số nhà H, đường T, phố Đ, phường B, thành phố Ninh Bình dựng ở bãi đất trống, sát tường nhà không có người trông coi nên H chỉ và vỗ vai bảo B quay xe lại rồi B dừng xe cách nơi để tài sản khoảng 25m đứng chờ, cảnh giới, còn H đi bộ vào dắt chiếc xe đạp điện trên ra, H ngồi trên xe đạp điện tay phải điều khiển xe, tay trái bám vào vai phải của B để B kéo về nhà H, sau đó B điều khiển xe đi về nhà mình. H sau khi phá được khóa xe trộm cắp thì điều khiển sang xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định gặp một người đàn ông không quen biết để đổi lấy 03 tép ma túy về sử dụng. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, B đi đến khu vực gầm cầu vượt Thanh Bình, thành phố Ninh Bình thì gặp H và được H đưa cho 02 tép ma túy nói rằng ma túy là do đổi xe đạp điện vừa trộm cắp được mà có. B cầm số ma túy trên đem về nhà sử dụng hết.
Qua trình điều tra, xác minh ngày 01/3/2022, Công an phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình đã triệu tập Giang Thành B đến trụ sở để làm việc, tại đây B khai nhận người đi cùng mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là Phạm Ánh H. Tuy nhiên H đã đi khỏi địa phương, đến ngày 06/6/2022 Cơ quan điều tra đã triệu tập Phạm Ánh H lên làm việc, tại đây H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Đến ngày 15/8/2022 khi Cơ quan điều tra triệu tập Giang Thành B lên làm việc thì B đã thay đổi lời khai xác định lại là ngày 01/3/2022 H có đến nhà mình nhờ B chở đến nhà người quen vay tiền và hứa trả 200.000 đồng tiền công. Ngày 29/8/2022 Cơ quan điều tra tiến hành việc đối chất giữa H và B nhưng B vẫn tiếp tục giữ nguyên lời khai của mình và khẳng định việc H rủ “Có đi chợ không?” - ý là đi ăn trộm và bảo B đứng ngoài cảnh giới là sai sự thật, cũng như việc không đồng ý với H đưa hai tép ma túy có được từ chiếc xe đạp điện trộm cắp vì B khai rằng từ lúc kéo H và chiếc xe đạp điện về đến nhà H đến nay chưa gặp lại H, cũng như không có việc H đưa ma túy và H chưa trả số tiền công cho B như đã hứa.
Ngày 29/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình ra bản Cáo trạng số 110 truy tố Phạm Ánh H về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g, khoản 2, điều 173 Bộ luật Hình sự và chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử theo quy định. Ngày 04/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình ra công văn số 32 đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình trả lại hồ sơ điều tra bổ sung. Ngày 04/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình ra quyết định số 01 trả hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình để điều tra bổ sung làm rõ: nguyên nhân B thay đổi lời khai trong quá trình điều tra: Lời khai ngày 01/3/2022 tại Công an phường Bích Đào thì B thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản tại số nhà H, đường Triệu Việt Vương, phố Đông Xuân, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình cùng H. Lời khai ban đầu, bản tự khai, B khai với Công an phường Bích Đào trong tình trạng sức khỏe tỉnh táo, minh mẫn, khai báo về thời gian, địa điểm, lời nói của Phạm Ánh H rủ B đi trộm cắp tài sản phù hợp với lời khai của Phạm Ánh H (trong khi B là người được triệu tập lên Công an phường làm việc trước H). Nhưng sau đó tại Cơ quan cảnh sát điều tra lại thay đổi với lý do vì uống rượu say nên khai tại phường không đúng, không thừa nhận hành vi ngày 01/3/2022 đi trộm cắp tài sản cùng Phạm Ánh H. Quá trình thực hiện việc điều tra bổ sung Cơ quan điều tra đã triệu tập đối với Giang Thành B sinh năm 1979, trú tại phố T, phường N, thành phố N đấu tranh các nội dung còn mâu thuẫn trong lời khai; Tiến hành xác định hiện trường đối với Giang Thành B để xác định vị trí trộm cắp tài sản, nơi tài sản bị trộm cắp, nơi B đứng chờ H; sao chụp bản ảnh trong video sao trích camera an ninh của Công an phường Bích Đào và camera an ninh nhà dân ghi lại hình ảnh H và B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để cho Giang Thành B và Phạm Ánh H xác định thời gian, địa điểm, trang phục, phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; cho bị hại Vũ Xuân Q xem bản ảnh xác định tài sản bị trộm cắp; trích xuất, áp giải Phạm Ánh H để xác định hiện trường trộm cắp tài sản, vị trí để tài sản trước khi trộm cắp, khoảng cách từ nơi để tài sản đến nơi B dừng xe chờ H; hỏi cung Phạm Ánh H để xác định những nội dung còn mâu thuẫn với lời khai của Giang Thành B; tiến hành đối chất giữa Giang Thành B và Phạm Ánh H để xác định những nội dung còn mâu thuẫn trong lời khai.
Ngày 05/12/2022 tại Biên bản đối chất và Biên hỏi cung đối với Giang Thành B biết không thể chối cãi về hành vi phạm tội của mình B mới chịu thừa nhận lời khai ngày 01/3/2022 tại Công an phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình là đúng, các lời khai sau này tại Cơ quan điều tra là chưa chính xác do B cố tình khai không đúng sự thật để trốn tránh hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của Giang Thành B là phù hợp nội dung sự việc, phù hợp với lời khai của bị can Phạm Ánh H; Biên bản xác định hiện trường, bản ảnh xác định hiện trường và lời khai của bị hại.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 06/4/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Ninh Bình xác định giá trị tài sản: Xe đạp điện màu đen, nhãn hiệu CAP A (đã qua sử dụng) có giá trị 2.200.000 đồng .
Tại bản cáo trạng số 150/CT-VKSPNB ngày 14/12/2022,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Phạm Ánh H và Giang Thành B về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự đối với Phạm Ánh H; áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự đối với Giang Thành B.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng số 150/CT-VKSPNB ngày 14/12/2022 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Ánh H, Giang Thành B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Ánh H. Xử phạt bị cáo Phạm Ánh H từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 06/6/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Giang Thành B. Xử phạt bị cáo Giang Thành B từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 23/11/2022.
Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét giải quyết
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu bạc biển kiểm soát 35F7-xxx đăng ký xe mô tô mang tên Dương Thị M;
- Tich thu, tiêu hủy: 01 áo phao màu đen và 01 mũ bảo hiểm màu xanh;
- Trả lại cho chị Lê Thị A 01 mũ bảo hiểm màu xanh.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bị hại anh Vũ Xuân Q vắng mặt tại phiên tòa, lời trình bày của anh Q tại cơ quan điều tra thể hiện: khoảng 14 giờ ngày 01/3/2022, anh có bị mất 01 chiếc xe đạp điện màu đen, nhãn hiệu CAP A để bên hông nhà số H, đường Triệu Việt Vương, phố Đông Xuân, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình, anh đã lên trình báo sự việc với Công an phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình. Cơ quan Công an đã xác định được đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy điện của anh. Quá trình điều tra gia đình Phạm Ánh H là người đã trộm cắp chiếc đạp điện của anh đã đền bù giá trị chiếc xe cho anh, số tiền là 2.800.000 đồng, anh đã nhận đủ tiền đền bù và không đề nghị gì về trách nhiệm dân sự; anh đề nghị các cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho những người thực hiện hành vi trộm cắp xe đạp điện của anh.
Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Ánh H và Giang Thành B khai nhận Khoảng 12 giờ ngày 01/3/2022, H đến nhà B nói với Bá “Có đi chợ không?”
B hiểu là H rủ đi trộm cắp tài sản. B đồng ý và lấy xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu bạc, của B chở H đi vòng quanh địa bàn phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình tìm tài sản sơ hở của người dân để trộm cắp. Khoảng 12 giờ 30 phút khi đi qua số nhà H, đường Triệu Việt Vương, phố Đông Xuân, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình thấy có một chiếc xe đạp điện màu đen dựng ở bãi đất trống, sát tường nhà H bảo B quay xe lại rồi B dừng xe cách nơi để tài sản khoảng 25m cảnh giới, còn H đi bộ vào dắt chiếc xe đạp điện trên ra, H ngồi trên xe đạp điện để B kéo về nhà H, sau đó B điều khiển xe đi về nhà mình. H sau khi phá được khóa xe trộm cắp thì đem sang xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định gặp một người đàn ông không quen biết để đổi lấy 03 tép ma túy về sử dụng. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, tại khu vực gầm cầu vượt Thanh Bình, thành phố Ninh Bình H đưa cho B 02 tép ma túy nói rằng ma túy là do đổi xe đạp điện vừa trộm cắp được mà có.
Các bị cáo nhận thấy Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Ánh H và Giang Thành B nhận tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 30 ngày 01/3/2022, tại số nhà H, đường Triệu Việt Vương, phố Đông Xuân, phường Bích Đào, Phạm Ánh H và Giang Thành B đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một xe đạp điện màu đen, nhãn hiệu CAP A (đã qua sử dụng) của anh Vũ Xuân Q trị giá 2.200.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác là khách thể được luật hình sự bảo vệ. Các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự hành vi của bị cáo Giang Thành B phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Phạm Ánh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
.............................................
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
………………………….…
g, Tái phạm nguy hiểm.
Hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội các bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ.
Để bảo đảm trật tự xã hôi, có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo, phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử và phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà các bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Giang Thành B có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội. Do đó, bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Phạm Ánh H ngoài tình tiết tăng nặng định khung không có tình tiết tăng nặng nào khác.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Phạm Ánh H được hưởng thêm tình tiết “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: các bị cáo là những người có nhân thân xấu, đều đã bị xử lý về hình sự, xử lý về hành chính về nhiều hành vi vi phạm pháp luật nhiều lần.
Về hình phạt:
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sự ăn năn hối cải của các bị cáo thể hiện tại phiên tòa, số tiền các bị cáo chiếm đoạt; Hội đồng xét xử thấy:
Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tại bản Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 06/4/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Ninh Bình xác định giá trị tài sản: Xe đạp điện màu đen, nhãn hiệu CAP A (đã qua sử dụng) có giá trị 2.200.000 đồng, song H và gia đình Hồng đã tự nguyện bồi thường cho anh Q số tiền 2.800.000 đồng. Anh Q đã nhận tiền và không có yêu cầu đề nghị gì; Phạn Ánh H không yêu cầu Giang Thành B phải trả cho H số tiền đã bồi thường cho anh Q. Do đó, về trách nhiệm dân sự không đưa ra xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Cơ quan điều tra thu giữ của Giang Thành Bá 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu xám bạc; 01 Biển kiểm soát 35F7-xxx; 01 đăng ký xe mô tô mang tên Dương Thị M; 01 mũ bảo hiểm. Thu của Phạm Ánh H 01 áo phao màu đen và 01 mũ bảo hiểm màu xanh.
Quá trình điều tra đã xác định chiếc xe mô tô là tài sản của Giang Thành B, B sử dụng xe vào việc phạm tội nên tịch thu, sung ngân sách Nhà nước;
01 áo phao màu đen và 01 mũ bảo hiểm màu xanh là tài sản của Giang Thành B và Phạm Ánh H các bị cáo không yêu cầu trả lại, không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy;
01 mũ bảo hiểm màu xanh Phạm Ánh H mượn của chị Lê Thị A nên trả lại cho chị A.
Các bị cáo Giang Thành B và Phạm Ánh H bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: quá trình điều tra Phạm Ánh H khai có mang chiếc xe đạp điện sang xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đổi lấy 03 tép ma túy của một người đàn ông không quen biết, Hồng sử dụng 01 tép và đưa cho B 02 tép. Tuy nhiên hành vi trên của H và B không thu thập được tang vật, tài liệu chứng minh thời điểm sử dụng ma túy. Do đó, không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Ánh H.
- Khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Giang Thành B
1. Tuyên bố: các bị cáo Phạm Ánh H và Giang Thành B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Phạm Ánh H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 06/6/2022.
2.2. Xử phạt bị cáo Giang Thành B 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 23/11/2022.
3. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, màu bạc biển kiểm soát 35F7-xxx đăng ký xe mô tô mang tên Dương Thị M.
- Tich thu, tiêu hủy: 01 áo phao màu đen và 01 mũ bảo hiểm màu xanh.
- Trả lại cho chị Lê Thị A 01 mũ bảo hiểm màu xanh.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án thành phố Ninh Bình ngày 16/12/2022).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc Phạm Ánh H và Giang Thành B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 tính từ ngày tuyên án (30/12/2022); người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND TP.Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - CA TP.Ninh Bình; - CCTHADS TP.Ninh Bình; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; bị hại, người liên quan; - Lưu VP, HS. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hiền |