- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Chấn C - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 148/2022/HS-ST Ngày 24-9-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vương
Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tài
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Tấn Hoàng.
Ông Nguyễn Quốc Dũng.
Bà Nguyễn Thị Đào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 24 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Chấn C, sinh năm 1980, tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: số 85 Bis, đường Nguyễn Văn T, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn Cẩm (đã chết) và bà Lê Thị Cẩm H (đã chết); bị cáo có vợ (đã ly hôn) và 03 con; tiền án: không; tiền sự: ngày 07/10/2019, Tòa án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 320, thời hạn 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; chấp hành xong ngày 02/02/2021; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2021 cho đến nay; có mặt.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Lý Chấn C: ông Phạm Thế P là Luật sư Văn phòng Luật sư A, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị hại: ông Nguyễn An T, sinh năm 1989; nơi cư trú: số 28/63/18, đường Lương Văn Cam, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên H (sau đây gọi tắt là Công ty Hồ Huy); địa chỉ: số 62, đường C, phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật là ông Hồ H. Người đại diện theo ủy quyền là ông Hà Triệu K; địa chỉ: số 28/1/33, đường P, Phường D, quận T, Thành phố Hố Chí Minh; có mặt.
2. Công ty Cổ phần tập đoàn M (sau đây gọi tắt là Công ty M); địa chỉ: số 64-68, đường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật là ông Hồ H. Người đại diện theo ủy quyền là ông Hà Triệu K; địa chỉ: số 28/1/33, đường P, Phường A, quận T, Thành phố Hố Chí Minh; có mặt.
3. Công ty Cổ phần bảo hiểm Bưu Điện (PTI); địa chỉ: Tầng 8, Tòa nhà số 4A, L, quận B, Thành phố Hà Nội do ông Bùi Xuân T, chức vụ: Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền là ông Đạt Anh T; địa chỉ: Văn phòng đại diện giám định bồi thường PTP tại Thành phố Hồ Chí Minh; số 205, đường Nguyễn Xí, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Min; có mặt.
4. Trần Văn L, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp 4, xã L, huyện C, tỉnh L; có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng: ông Hồ Đình T, sinh năm 1985; ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2000 và ông Nguyễn Hoàng Trung H, sinh năm 1991; tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Chấn C là đối tượng không nghề nghiệp và nghiện ma túy. Tối ngày 24/4/2021, do không có tiền tiêu xài nên Cường nảy sinh ý định thuê xe ô tô taxi đi đến khu vực đường vắng người để cướp xe ô tô. Thực hiện ý định trên, C đem theo 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 23 cm, 02 cán bằng nhựa màu đen, đến khoảng 03 giờ ngày 25/4/2021, C thuê xe ô tô taxi hiệu M, biển số 51F – 343.69, do Nguyễn An Tâm điều khiển, đi từ đường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng khu vực vòng xay A, thuộc phường A, thành Phố T, tỉnh Bình Dương. Khi đi đến đoạn đường dẫn vào cổng số 02 của ga Sóng T, thuộc phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, C yêu cầu T dừng xe để C đi bộ vào trong ga Sóng Thần lấy tiền của người quen trả tiền thuê xe cho T. Do T nhìn thấy đoạn đường này tối, vắng người, T nghi ngờ C sẽ cướp tài sản nên không dừng, mà điều khiển xe ô tô chạy đến cổng số 02 ga S, dừng lại (khu vực này có đèn chiếu sáng, nhiều người qua lại và có bảo vệ trực ở cổng), T mở đèn trong xe, mở hết cửa kính ô tô, xuống xe, đứng cách xe ô tô khoảng 04 m và yêu cầu Cường xuống xe, trả tiền taxi, T không chở C theo yêu cầu. C xuống xe cự cãi với Tâm rồi lấy cây kéo trong người ra dọa đâm T nên T lùi lại, C đến mở cửa xe ô tô vào ngồi ghế tài xế, đề máy xe bỏ chạy thì Tâm xông đến nắm tay trái của C kéo ra, đồng thời truy hô “Cướp..cướp”. Nghe truy hô, bảo vệ cổng số 02 là Hồ Đình T chạy đến, cùng với T ngăn cản, giằng co với C, C dùng kéo đâm vào người T, T nhưng không trúng, T lùi ra, còn T vẫn bám vào cửa xe ô tô nhằm kéo C ra. Cường điều khiển xe ô tô bỏ chạy, T bị ngã xuống đường, trầy xước da 02 cánh tay. Sau đó, T điện thoại cho Nguyễn Mạnh C là thành viên câu lạc bộ phòng chống tội phạm phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một thông báo về việc T bị cướp xe ô tô và đề nghị sự giúp đỡ. C cùng với Nguyễn Hoàng Trung H và các thành viên trong câu lạc bộ phòng chóng tội phạm phường P truy tìm, phát hiện Lý Chấn C chạy đến khu vực phường Phú Hòa nên truy đuổi đến trước nhà số 345, đường Trung An, thuộc ấp An Bình, xã Trung An, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Lê Thúy Hồng làm chủ. Do Lý Chấn Cđiều khiển xe chạy với tốc độ cao, không làm chủ tốc độ nên chạy xe vào lề đường bên trái theo hướng C lưu thông, đụng vào tường rào nhà bà Hồng rồi dừng lại. Lý Chấn C bị lực lượng phòng chống tội phạm bắt giữ, giao Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô taxi hiệu M, biển số 51F-343.69 đã bị hư hỏng phần đầu; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 23 cm, 02 cán bằng nhựa màu đen.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 62 ngày 25/4/2021 và Kết luận định giá tài sản số 68 ngày 20/5/2021 của Hội đồng định giá thành phố D, tỉnh Bình Dương, kết luận chiếc xe ô tô biển số 51F-343.69 là tang vật vụ án, trị giá 320.000.000 đồng; chi phí sửa chữa xe ô tô biển số 51F-343.69, do C làm hư hỏng là 166.699.500 đồng.
Đối với thiệt hại là bức tường rào nhà bà H sau khi bị C làm hư hỏng, bà đã sửa chữa hết 1.500.000 đồng, bà H không yêu cầu C bồi thường.
Đối với thương tích, xây sát da 02 cánh tay của anh T, qua điều tra anh Tâm không yêu cầu giám định thương tật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương không trưng cầu giám định thương tích và anh T cũng không yêu cầu bồi thường gì.
Đối với chiếc xe ô tô taxi hiệu M, biển số 51F-343.69, giấy chứng nhận đăng ký xe số 098273, do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hồ H ngày 21/9/2015. Ngày 02/7/2018, Công ty Hồ H đã bán chiếc xe ô tô trên cho Tâm dưới hình thức trả góp (Tâm đã trả xong tiền nhưng chưa làm thủ tục sang tên). Sau đó, Tâm lập hợp đồng hợp tác với Công ty Cổ phần tập đoàn taxi M. Xe ô tô của T mang thương hiệu taxi M và chia lợi nhuận với công ty taxi M. Do chiếc xe ô tô trên được xác định là của T nên ngày 20/5/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D quyết định xử lý vật chứng số 54 trả lại T chiếc xe ô tô biển số 51F-343.69 là vật chứng của vụ án. Riêng chi phí thiệt hại, phải sửa chữa là 166.699.500 đồng, T không yêu cầu C phải bồi thường.
Tại phiên tòa, đại diện Công ty H xác định xe taxi nêu trên bán trả góp cho bị hại T. Đại diện Công ty M và Công ty Cổ phần bảo hiểm Bưu Điện xác định Công ty M có mua bảo hiểm đối với xe taxi nêu trên, đại diện Công ty Cổ phần bảo hiểm Bưu Điện đồng ý bồi thường chi phí sửa chữa xe 87.511.000 đồng như trước đây hai bên đã làm việc, đại diện Công ty M đồng ý.
Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 31/5/2022, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lý Chấn C về tội “Cướp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng mà đại diện Viện Kiểm sát đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đề xuất xử phạt bị cáo từ 12 năm đến 13 năm tù.
Người bào chữa Phạm Thế P trình bày nội dung bào chữa cho bị cáo Lý Chấn C: thống nhất quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo và xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
Bị cáo Lý Chấn C: thống nhất quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận.
Bị hại Nguyễn An T không có ý kiến tranh luận.
Ông Đạt Anh T và ông Hà Triệu K không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lý Chấn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: để có tiền tiêu xài nên khoảng 03 giờ ngày 25/4/2021, Lý Chấn C đem theo 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 23 cm, 02 cán bằng nhựa màu đen, rồi thuê chiếc xe ô tô taxi hiệu Mai Linh, biển số 51F-343.69 do anh Nguyễn An T điều khiển đi từ khu vực đường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực trước cổng số 02 ga Sóng Thần, thuộc phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Cường dùng kéo tấn công anh T, chiếm đoạt chiếc xe ô tô biển số 51F-343.69, trị giá 320.000.000 đồng. Hành vi nêu trên của Lý Chấn C đã phạm vào tội “Cướp tài sản”. Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 31/5/2022, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lý Chấn C về tội “Cướp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện bản tính côn đồ, ý thức xem thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: trong quá trình điều tra bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về tội danh, Điều luật, các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt là phù hợp.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo là có cơ sở chấp nhận một phần.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của Công ty Mai Linh và Công ty Cổ phần bảo hiểm Bưu Điện thống nhất thỏa thuận được việc bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên đã ký kết nên thống nhất sau khi Công ty Cổ phần bảo hiểm Bưu Điện bồi thường xong thì Công ty Mai Linh sẽ chuyển quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo hợp đồng đã ký kết. Công ty Cổ phần bảo hiểm Bưu Điện có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác sau khi đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm.
Về xử lý vật chứng trong vụ án: đối với 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 23 cm, 02 cán bằng nhựa màu đen là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự: bị cáo Lý Chấn C phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh
Tuyên bố bị cáo Lý Chấn C phạm tội “Cướp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lý Chấn C 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/4/2021.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 23 cm, 02 cán bao nhựa màu đen.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 5 năm 2022).
4. Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lý Chấn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Phòng PC01 - Công an tỉnh Bình Dương; - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương; - Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng (7); - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bình Dương; - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án (2); - Tổ Hành chính tư pháp (2); - Lưu: hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, LTH, 25. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Quân Vƣơng |