vanban.org

Bản án 148/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Ngọc L được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Gi (Giấy chứng nhận kết hôn số 277/2012, quyển số 02/2012 do Ủy ban nhân dân phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ngày 29 tháng 11 năm 2012).

Về con chung: Anh Nguyễn Hoàng Gi giao con chung Nguyễn Phúc Vinh, sinh ngày 24/12/2018 cho chị Đinh Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đinh Ngọc L không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng Gi cấp dưỡng nuôi cháu V. Chị Đinh Ngọc L giao hai con chung Nguyễn Phúc Đ, sinh ngày 01/6/2014 v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đinh Ngọc L tranh chấp ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Hoàng Gi"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Ngọc L được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Gi (Giấy chứng nhận kết hôn số 277/2012, quyển số 02/2012 do Ủy ban nhân dân phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ngày 29 tháng 11 năm 2012).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
———————
Bản án số: 148/2022/HNGĐ-ST
Ngày 19-8-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Lệ Chi;

2. Ông Hồ Tấn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 228/2022/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022, về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Ngọc L, sinh năm 1993; thường trú: 38/13A khu phố Th, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng Gi, sinh năm 1986; thường trú: 38/13A khu phố Th, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Đinh Ngọc L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, nhưng theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 14 tháng 3 năm 2022, lời khai trong quá trình tố tụng, chị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau một thời gian tìm hiểu, chị Đinh Ngọc L và anh Nguyễn Hoàng Gi tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 277/2012, quyển số 02/2012 ngày 29 tháng 11 năm 2012. Việc tìm hiểu, chung sống và kết hôn là tự nguyện và được hai bên gia đình chấp nhận. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại thành phố D, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian sau này, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau, thường xuyên cãi vả dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục, chị L yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Gi.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có ba con chung tên Nguyễn Phúc Đ, sinh ngày 01/6/2014, Nguyễn Phúc Th, sinh ngày 03/10/2015 và Nguyễn Phúc V, sinh ngày 24/12/2018. Chị Đinh Ngọc L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phúc Vinh, sinh ngày 24/12/2018 và đồng ý giao hai cháu Nguyễn Phúc Đ, sinh ngày 01/6/2014 và Nguyễn Phúc Th, sinh ngày 03/10/2015 cho anh Nguyễn Hoàng Gi trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đinh Ngọc L không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cháu Đ, cháu Th và không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng Gi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Vinh.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Chị Đinh Ngọc L và anh Nguyễn Hoàng Gi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về phía bị đơn anh Nguyễn Hoàng Gi:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu anh Nguyễn Hoàng Gi có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của chị Đinh Ngọc L nhưng anh Nguyễn Hoàng Gi không có ý kiến gì. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Hoàng Gi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 04/7/2022 nhưng anh Gi vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của chị L.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

+ Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến về việc giải quyết án:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Ngọc L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Đinh Ngọc L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh Nguyễn Hoàng Gi đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị L và anh Gi.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Ngọc L và anh Nguyễn Hoàng Gi có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 277/2012, quyển số 02/2012 ngày 29 tháng 11 năm 2012 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân tại UBND phường Dĩ An ngày 05/7/2022 thể hiện: Mâu thuẫn của chị L và anh Gi chính quyền địa phương không rõ, đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Đinh Ngọc L xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân được nữa và có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải đoàn tụ. Anh Nguyễn Hoàng Gi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên anh Gi không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án và cũng không lên tòa làm việc, điều này cho thấy anh Gi cũng bỏ mặc quan hệ hôn nhân, không có thiện chí hòa giải. Như vậy, mâu thuẫn của chị L và anh Gi đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đinh Ngọc L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phúc V, sinh ngày 24/12/2018 và giao hai cháu Nguyễn Phúc Đ, sinh ngày 01/6/2014 và Nguyễn Phúc Th, sinh ngày 03/10/2015 cho anh Nguyễn Hoàng Gi trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đinh Ngọc L không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cháu Đ, cháu Th và không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng Gi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Vinh. Hai cháu Đ và Th đang sống cùng anh Gi, cháu Đcó nguyện vọng được sống cùng anh Gi; mặt khác qúa trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Hoàng Gi không có ý kiến gì về việc nuôi con cũng như cấp dưỡng cho con chung. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Ngọc L về việc nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Đinh Ngọc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Ngọc L được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Gi (Giấy chứng nhận kết hôn số 277/2012, quyển số 02/2012 do Ủy ban nhân dân phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương ngày 29 tháng 11 năm 2012).

2. Về con chung: Anh Nguyễn Hoàng Gi giao con chung Nguyễn Phúc Vinh, sinh ngày 24/12/2018 cho chị Đinh Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đinh Ngọc L không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng Gi cấp dưỡng nuôi cháu V. Chị Đinh Ngọc L giao hai con chung Nguyễn Phúc Đ, sinh ngày 01/6/2014 và Nguyễn Phúc Th, sinh ngày 03/10/2015 cho anh Nguyễn Hoàng Gi trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đinh Ngọc L không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu Đ và Th.

Sau ly hôn, chị Đinh Ngọc L và anh Nguyễn Hoàng Gi đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đinh Ngọc L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003694 ngày 08 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.\Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ