vanban.org

Bản án 148/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và mức hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. - phạm tội khai báo hoặc tự nguyện làm vịêc cho địch khi bị…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2021/HSST
Ngày 29-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hữu Tấn

2. Ông Văn Quang Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh P, sinh năm 1985 tại tỉnh Long An; hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã K, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1955 và bà Ngô Thị M, sinh năm 1956; bị cáo có vợ là Hồ Ngọc A, sinh năm 1989; bị cáo có 01 con sinh năm 2010.

Tiền án: Ngày 10/01/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 05/2007/HSST.

Ngày 25/4/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 10/2007/HSST.

Tổng hợp hình phạt của 02 bản án bị cáo phải chấp hành là 03 năm 09 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/7/2009, chấp hành xong án phí ngày 03/12/2014 và ngày 07/9/2007, đối với số tiền 2.334.000 đồng sung quỹ nhà nước bị cáo đã nộp được 1.000.000 đồng, còn lại 1.334.000 đồng bị cáo đã được đình chỉ theo quyết định số 163/QĐ.CCTHA ngày 16/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Ngày 22/02/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 18/2019/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/9/2020, chấp hành xong án phí và trách nhiệm dân sự ngày 14/6/2019.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 24/3/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 83/2003/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2003, chưa chấp hành xong án phí nhưng bị cáo đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Tấn P2, sinh năm 1995; trú tại: Thôn X, xã N, huyện Đắk Rlấp, tỉnh Đắk Nông, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1992; trú tại: Thôn 8, xã Nhân cơ, huyện Đắk Rlấp, tỉnh Đắk Nông, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 10/3/2021, anh Nguyễn Tân P2 điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu xanh đen biển số 48B1-428.24 đến dựng xe trên lề đường XC6 cách nhà trọ Thanh L thuộc khu phố 4, phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương khoảng 20m rồi đi vào mua thuốc lá hút. Sau khi mua thuốc lá xong, anh P2 quay lại thì phát hiện xe mô tô biển số 48B1-428.24 bị mất trộm. Anh liền đến Công an phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát trình báo sự việc.

Khoảng 10 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Văn B là thành viên của Câu lạc bộ phòng chống tội phạm phường Chánh Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương phát hiện Nguyễn Thanh P đang điều khiển xe mô tô biển số 48B1-428.24 đi từ hướng cầu Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đến huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh nên anh B đuổi theo. Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, anh B truy đuổi đến đoạn đường tỉnh lộ 8, thuộc ấp 4, xã Hòa Phú, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh thì bắt giữ được P cùng xe mô tô biển số 48B1-428.24 giao cho Công an xã Hòa Phú, huyện Củ Chi xử lý. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh P khai nhận: Vào ngày 06/3/2021, P đi uống cà phê tại khu vực thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì quen với đối tượng tên Trọng (không rõ nhân thân lai lịch). P nói với Trọng không có việc làm nên không có tiền tiêu xài thì Trọng rủ P chạy xe mô tô do trộm cắp có được đi tiêu thụ sẽ được trả tiền công, P đồng ý. Khoảng 17 giờ ngày 09/3/2021, P đang ở nhà của mình tại xã Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì có đối tượng tên Chú Hai (không rõ nhân thân lai lịch) gọi điện thoại cho P kêu P ngày 10/3/2021 đến thị xã Bến Cát nhận xe mô tô trộm cắp có được chạy đến cửa khẩu Thơmo thì Chú Hai trả tiền công một lần là 500.000 đồng. Khoảng 05 giờ sáng ngày 10/3/2021, P đón xe buýt đến Bến xe An Sương, sau đó bắt xe công nghệ Garb đến thị xã Bến Cát. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, P đi đến nơi hẹn với Chú Hai tại đoạn đường DK13 thuộc khu phố 2, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát. P đợi khoảng 10 phút thì có một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch điều khiển xe mô tô biển số 48B1-428.24 đến giao cho P điều khiển xe chạy đi. Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, P điều khiển xe mô tô biển số 48B1-428.24 đến đoạn đường Tỉnh lộ 8, thuộc xã Hòa Phú, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt giữ cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu xanh đen biển số 48B1-428.24; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng Model: CPH1725 màn hình bị vỡ, không kiểm tra bên trong máy; 01 máy phá sóng định vị màu đen có chữ Power.

Theo Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu xanh đen biển số 48B1-428.24 đã qua sử dụng trị giá 22.160.000 đồng.

Qua xác minh, xác định: Xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu xanh đen biển số 48B1-428.24 do anh Nguyễn Quốc D là anh trai của anh Nguyễn Tân P2đứng tên chủ sở hữu. Ngày 19/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu xanh đen biển số 48B1-428.24 cho anh D.

Tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKSBC ngày 25 tháng 6 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội: “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P mức án từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) máy phá sóng định vị màu đen có chữ Power (tại thời điểm giao nhận máy không hoạt động được).

+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng Model: CPH 1725 màn hình bị vỡ (tại thời điểm giao nhận máy không hoạt động được).

Bị hại Nguyễn Tấn P2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Quốc D vắng mặt tại phiên tòa. Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án, ông và ông D khai xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu xanh đen biển số 48B1-428.24 do ông Nguyễn Quốc D là anh trai của ông Nguyễn Tân P2đứng tên chủ sở hữu, ngày 10/3/2021 ông mượn xe của ông D và làm mất. Quá trình giải quyết vụ án Công an Cảnh sát điều tra đã giao trả lại chiếc xe trên cho ông D, do đó ông và ông D không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ ngày 10/3/2021, tại đường DK13 thuộc khu phố 2, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thanh P biết xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu xanh đen biển số 48B1-428.24 là tài sản trộm cắp có được (xe bị mất trộm tại khu vực khu phố 4, phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương) nhưng đã nhận từ đối tượng không rõ nhân thân lai lịch, điều khiển xe chạy đến cửa khẩu Tho Mo để tiêu thụ thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Xét bị cáo Nguyễn Thanh P là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân.

Tài sản bị cáo tiêu thụ là 01 xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu xanh đen biển số 48B1-428.24 trị giá 22.160.000 đồng, hành vi của bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội lần này do cố ý nên bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, bản Cáo trạng số 119/CT-VKSBC ngày 25 tháng 6 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội: “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; tài sản đã được thu hồi giao trả cho bị hại theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Ngày 24/3/2003, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 83/2003/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2003, chưa chấp hành xong án phí nhưng bị cáo đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Đối với đối tượng tên Trọng và Chú Hai hiện không rõ nhân thân, lai lịch. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Suzuki Raider màu xanh đen biển số 48B1-428.24 là tài sản hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Quốc D nên Cơ quan Cảnh sát điều đã giao trả tài sản trên cho ông D là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng Model: CPH 1725 màn hình bị vỡ (tại thời điểm giao nhận máy không hoạt động được) là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Đối với 01 (một) máy phá sóng định vị màu đen có chữ Power (tại thời điểm giao nhận máy không hoạt động được) là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, điều khoản áp dụng, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng đối với bị cáo phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào các điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268; Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và mức hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2021.

2. Về xử lý vật chứng:

+ Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) máy phá sóng định vị màu đen có chữ Power (tại thời điểm giao nhận máy không hoạt động được).

+ Tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng Model: CPH 1725 màn hình bị vỡ (tại thời điểm giao nhận máy không hoạt động được).

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/7/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.

Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ