- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự c n trả lại; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _______________________ Bản án số: 148/2021/HS-ST Ngày: 23-12-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Minh Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Thế Căn
- Bà Nguyễn Thị Hảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Bùi Tuấn Ninh, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M ng Cái t nh Quảng Ninh ti n hành t s th m c ng khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2021/HSST ngày 12/11/2021, theo Quy t định đưa vụ án ra t số 135a/2021/QĐXXST-HS ngày 15/11/2021và Quy t định hoãn phiên tòa số 13/2021/HSST-QĐ ngày 26/11/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thị L ( Không có tên gọi khác ); Sinh ngày 24/02/1979 tại M ng Cái Quảng Ninh.
N i đăng ký hộ kh u thường trú – n i cư trú: thôn 7, ã Q huyện H t nh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn h a (học v n): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt N; con ông Phạm Văn Sằn (đã ch t) và bà Lê Thị Thật; c chồng là Vũ Văn Thành và 02 con; T án, T sự: kh ng c ;
Bị cáo đ u thú ngày 28/9/2021, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ c ng an thành phố M ng Cái. C mặt tại phiên tòa.
- B hại:
1. Anh Phan Văn P sinh năm 1979; n i cư trú; th n Q ã Q huyện H, t nh Quảng Ninh. Vắng mặt c đ n đề nghị t vắng mặt.
2. Anh Phan Văn N, sinh năm 1974; n i cư trú: m H ã V huyện K, t nh Ninh Bình. Vắng mặt tại phiên tòa c đ n đề nghị t vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn T sinh năm 1970; n i cư trú: th n Đ ã Đ huyện Đ t nh Quảng Ninh. C mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Anh Đỗ Th T sinh năm 1985; n i cư trú: số nhà 78 phố Hoàng Văn Thụ thị tr n Đ huyện Đ t nh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Anh Lạc H sinh năm 1986; n i cư trú: th n Lục Phủ ã Bắc S n thành phố M ng Cái t nh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Anh Hoàng Văn H sinh năm 1982; n i cư trú: th n 3 ã V thành phố M t nh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ s vụ án và diễn bi n tại phiên tòa nội dung vụ án được t m tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 7/2021 đ n đ u tháng 8/2021 Phạm Thị L cùng chồng là Vũ Văn Thành lợi dụng s hở của những ngư dân trong việc quản lý các lồng “bát quái” thả ở biển để đánh bắt hải sản đã 02 l n thực hiện hành vi trộm cắp tổng số 80 chi c lồng “bát quái” cụ thể:
- L n thứ nh t: Khoảng 19 giờ một ngày cuối tháng 7/2021 Vũ Văn Thành rủ Phạm Thị L đi l y trộm lồng “bát quái” L đồng ý. Thành điều khiển uồng máy biển kiểm soát QN-1731 từ b n tàu Dân Ti n thuộc ã Hải Ti n thành phố M ng Cái đ n khu vực biển Đ u S n thuộc ã Vạn Ninh thành phố M ng Cái. Sau khi quan sát ung quanh kh ng th y c tàu bè qua lại L cùng Thành dùng đèn pin gắn trên đ u soi tìm các phao nổi phía dưới gắn lồng “bát quái”. Sau đ cả hai đã k o lên được 50 lồng “bát quái” của anh Phan Văn P lên uồng rồi Thành điều khiển uồng cùng L chở số lồng “bát quái” vừa l y được quay lại b n tàu Dân Ti n c t gi u.
- L n thứ hai: Khoảng 22 giờ một ngày đ u tháng 8/2021 cũng bằng thủ đoạn tư ng tự Phạm Thị L cùng Vũ Văn Thành đã l y trộm 30 lồng “bát quái” đang thả ở khu vực biển Đ u Đ t thuộc ã Hải Ti n thành phố M ng Cái của anh Phan Văn N.
Ngày 15/9/2021, L và Thành dùng uống máy biển kiểm soát QN-1731 chở 80 lồng “bát quái” đã trộm cắp được đ n khu vực biển ã Cái Chiên huyện Hải Hà t nh Quảng Ninh bán cho anh Đỗ Văn T với giá 5.000.000đ (năm triệu đồng) đồng thời bán chi c uồng máy QN-1731 cho anh T với giá 60.000.000đ (sáu mư i triệu đồng).
Ngày 25/9/2021 sau khi bi t hành vi phạm tội bị phát hiện Phạm Thị L đã đ n C ng an huyện Hải Hà đ u thú giao nộp 01 chi c điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu hồng gắn sim số 0904289606 còn Vũ Văn Thành vắng mặt n i cư trú.
Tại Bản k t luận định giá tài sản số 911/KL-HĐĐGTS ngày 28/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố M ng Cái k t luận: 50 chi c lồng “bát quái” dùng để đánh bắt thủy hải sản c đặc điểm tư ng tự nhau đều là loại 29 khung sắt dài 900cm rộng 32cm cao 22cm mắt lưới 1 3cm đã qua s dụng trị giá là 5.833.500đ (năm triệu tám trăm ba mư i ba nghìn năm trăm đồng); 30 chi c lồng “bát quái” dùng để đánh bắt thủy hải sản c đặc điểm tư ng tự nhau đều là loại 29 khung sắt dài 900cm rộng 32cm cao 22cm mắt lưới 1 3cm đã qua s dụng trị giá là 3.500.100đ (ba triệu năm trăm nghìn một trăm đồng). Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 9.333.600đ (chín triệu ba trăm ba mư i ba nghìn sáu trăm đồng).
Tại c quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị L khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung vụ án. Ngoài ra bị cáo còn khai nhận nguồn gốc chi c uồng máy biển kiểm soát QN-1731 do bị cáo cùng chồng là Vũ Văn Thành mua của anh Lạc H với giá 75.000.000đ (bảy mư i lăm triệu đồng) sau đ đã bán cho anh Đỗ Văn T với giá 60.000.000đ (sáu mư i triệu đồng) việc mua bán giữa các bên ch c gi y vi t tay anh T đã trả đủ T cho vợ chồng bị cáo.
Tại c quan điều tra bị hại là anh Phan Văn P và anh Phan Văn N c nội dung lời khai về số tài sản là 80 lồng “bát quái” bị trộm cắp như nội dung vụ án đồng thời anh P và anh N thừa nhận việc thả lồng “bát quái” để đánh bắt thủy hải sản là vi phạm quy định của pháp luật việc c quan nhà nước tịch thu số lồng “bát quái” của hai anh hai anh kh ng c ý ki n gì.
Tại c quan điều tra và tại phiên tòa người c quyền lợi nghĩa vụ L quan anh Đỗ Văn T c nội dung lời khai thể hiện: Anh kh ng bi t 80 lồng “bát quái” mà bị cáo L cùng chồng bán cho anh là tài sản trộm cắp nên đã mua 80 lồng “bát quái” với giá 5.000.000đ (năm triệu đồng) đồng thời anh cũng mua chi c uồng máy biển kiểm soát QN -1731 của vợ chồng bị cáo với giá 60.000.000đ (sáu mư i triệu đồng). Tại phiên tòa anh T yêu c u bị cáo phải trả lại cho anh 65.000.000đ (sáu mư i lăm triệu đồng) và bị cáo L đồng ý ch p nhận yêu c u của anh T.
Người làm chứng anh Lạc H anh Hoàng Văn H (con trai ng Hoàng Văn Hảo) trong quá trình điều tra c nội dung lời khai thể hiện: Chi c uồng máy biển kiểm soát QN-1731 c Gi y chứng nhận đăng ký phư ng tiện thủy nội địa chủ phư ng tiện là C ng ty cổ ph n thư ng mại và dịch vụ Hảo Hà do ng Hoàng Văn Hảo làm giám đốc tuy nhiên hiện nay ng Hảo đã ch t. Khi còn sống ng Hảo đã bán chi c uồng máy biển kiểm soát QN-1731 cho anh Lạc H, sau đ anh H đã bán lại cho vợ chồng bị cáo Phạm Thị L. Việc mua bán giữa các bên ch thể hiện bằng gi y vi t tay chưa làm thủ tục thay đổi tên chủ phư ng tiện trong Gi y chứng nhận đăng ký phư ng tiện thủy nội địa.
Người làm chứng anh Đỗ Th T trong quá trình điều tra c nội dung lời khai thể hiện anh được chứng ki n việc thỏa thuận mua bán 80 lồng “bát quái” và 01 chi c uống máy giữa vợ chồng bị cáo Phạm Thị L và anh Đỗ Văn T với giá 65.000.000đ (sáu mư i lăm triệu đồng).
Quá trình điều tra c quan điều tra đã khởi tố bị can đối với Vũ Văn Thành tuy nhiên Thành đã bỏ trốn khỏi địa phư ng c quan điều tra đã ra quy t định tách vụ án để ti p tục điều tra đối với Vũ Văn Thành.
Tại Bản cáo trạng số 134/CT-VKS-MC, ngày 11/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố b cáo Phạm Th L về tội “Trộm c p tài sản” theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 173 Bộ lu t h nh s .
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền c ng tố đã giữ nguyên quy t định truy tố và luận tội đối với bị cáo; sau khi phân tích nội dung vụ án tính ch t mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo nhân thân và các tình ti t tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị với Hội đồng t :
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ lu t h nh s .
X phạt b cáo Phạm Th L từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm c p tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2021.
- Về h nh phạt b sung: Không áp dụng h nh phạt b sung là phạt tiền đối v i b cáo.
- Về x lý v t chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ lu t h nh s ; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ lu t tố tụng h nh s : Trả lại cho b cáo Phạm Th L 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng; T ch thu sung vào ngân sách nhà nư c 01 (một) chiếc xuồng máy biển kiểm soát QN-1731.
- Về phần dân s : Ghi nh n thỏa thu n tại phiên tòa giữa b cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ L quan: B cáo Phạm Th L phải trả cho anh Đỗ Văn T 65.000.000đ (sáu mươi lăm triệu đồng).
Bị cáo người c quyền lợi nghĩa vụ L quan kh ng tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo n i lời n i sau cùng đề nghị Hội đồng x t x em t giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được th m tra t hỏi tranh luận tại phiên tòa Hội đồng t nhận định như sau:
[1] Về hành vi quy t định của C quan điều tra C ng an thành phố M ng Cái Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố M ng Cái Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng th m quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo kh ng c ý ki n hoặc khi u nại về hành vi quy t định của C quan ti n hành tố tụng người ti n hành tố tụng. Do đ các hành vi quy t định tố tụng của C quan ti n hành tố tụng người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh điều khoản áp dụng:
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Thị L trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, ngư i c quyền lợi nghĩa vụ L quan, người làm chứng phù hợp với nội dung Biên bản ti p nhận người phạm tội ra đ u thú K t luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ s vụ án, Hội đồng x t x th y c đủ c sở k t luận: Trong khoản thời gian từ cuối tháng 7/2021 đ n đ u tháng 8/2021 Phạm Thị L cùng chồng là Vũ Văn Thành lợi dụng s hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu đã 02 l n thực hiện trộm cắp tài sản cụ thể: l n thứ nh t tại khu vực biển Đ u S n thuộc ã Vạn Ninh thành phố M ng Cái L và Thành đã trộm cắp 50 lồng “bát quái” của anh Phan Văn P c trị giá là 5.833.500 đồng; l n thứ hai tại khu vực biển Đ u Đ t thuộc ã Hải Ti n thành phố M ng Cái L và Thành đã trộm cắp 30 lồng “bát quái” của anh Phan Văn N c trị giá là 3.500.100 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 9.333.600đ (chín triệu ba trăm ba mư i ba nghìn sáu trăm đồng).
Bị cáo c đ y đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi do lỗi cố ý mặc dù bi t pháp luật nghiêm c m việc chi m đoạt b t hợp pháp tài sản của người khác, nhưng bị cáo v n l n lút lợi dụng s hở của bị hại trong việc quản lý tài sản để trộm cắp. Hành vi của bị cáo xâm phạm đ n quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, do đ hành vi trộm cắp tài sản trị giá 9.333.600 đồng của Phạm Thị L đã c u thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố và luận tội về tội danh đối với bị cáo của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M ng Cái là c căn cứ pháp lý.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào trộm c p tài sản của người khác tr giá từ 2.000.000 đồng đến dư i 50.000.000 đồng ..., th b phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm ho c phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
X t hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội âm phạm đ n quyền sở hữu tài sản của cá nhân được Nhà nước bảo vệ, gây m t trật tự an toàn ã hội. Mặc dù nhận thức rõ pháp luật nghiêm c m, nhưng do thi u ý thức ch p hành pháp luật, bản thân lười lao động, bị cáo v n l n lút trộm cắp tài sản của người khác. Do đ việc đưa bị cáo ra t công khai và áp dụng hình phạt tư ng ứng với tính ch t mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là c n thi t mới c tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ c ng tác đ u tranh phòng chống tội phạm.
Đây là vụ án đồng phạm giản đ n Vũ Văn Thành là người khởi ướng tuy nhiên bị cáo Phạm Thị L tham gia tích cực do đ c n em t vai trò của bị cáo khi quy t định hình phạt.
Về áp dụng tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung:
- Về t nh tiết tăng n ng trách nhiệm h nh s : Bị cáo Phạm Thị L 02 l n thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá tài sản mỗi l n trộm cắp đều lớn h n 2.000.000 đồng do đ bị cáo phải chịu tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 l n trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s : Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành kh n khai báo ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đ u thú do đ bị cáo được hưởng tình ti t giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về h nh phạt b sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự người phạm tội còn c thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt T. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho th y bị cáo kh ng c nghề nghiệp thu nhập ổn định. Vì vậy Hội đồng t quy t định kh ng áp dụng hình phạt bổ sung là phạt T đối với bị cáo.
Sau khi em t đánh giá tính ch t của vụ án mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội vai trò của bị cáo trong vụ án tình ti t tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân, trị giá tài sản bị cáo đã trộm cắp Hội đồng t
t th y c n thi t phải lý nghiêm trong khung hình phạt đã truy tố cách ly bị cáo khỏi ã hội một thời gian mới c tác dụng răn đe giáo dục; đồng thời đáp ứng được c ng tác đ u tranh phòng chống loại tội phạm âm phạm sở hữu.
Về ph n dân sự và lý vật chứng:
Đối với 80 lồng “bát quái” bị cáo và Vũ Văn Thành trộm cắp c quan điều tra đã thu hồi. Tuy nhiên do việc thả lồng “bát quái” để đánh bắt hải sản tại vùng biển là vi phạm pháp luật c quan điều tra đã ki n nghị và UBND thành phố M ng Cái đã tịch thu số lồng “bát quái” trên là đúng quy định pháp luật những người bị hại đều kh ng c ý ki n gì đối với việc tịch thu lồng “bát quái” nên Hội đồng t kh ng đề cập.
01 chi c điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của bị cáo kh ng L quan đ n việc phạm tội căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự c n trả lại cho bị cáo.
Đối với chi c uồng máy biển kiểm soát QN-1731, đây là c ng cụ phư ng tiện phạm tội căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự c n tịch thu sung ngân sách nhà nước. Tại phiên tòa người c quyền lợi nghĩa vụ L quan anh Đỗ Văn T yêu c u bị cáo phải trả anh số T 65.000.000 (sáu mư i lăm triệu đồng) anh đã bỏ ra để mua chi c uồng máy và lồng “bát quái” bị cáo L đồng ý với yêu c u của anh T, do đ c n ghi nhận thỏa thuận buộc bị cáo L phải trả cho anh T số T 65.000.000đ (sáu mư i lăm triệu đồng). Do đây là nghĩa vụ L đới của bị cáo L và chồng bị cáo là Vũ Văn Thành bị cáo c quyền yêu c u Vũ Văn Thành hoàn trả một n a số T 65.000.000đ (sáu mư i lăm triệu đồng) n u phát sinh tranh ch p quyền khởi kiện giải quy t bằng một vụ án dân sự.
L quan trong vụ án còn c Vũ Văn Thành là chồng của bị cáo Phạm Thị L do Thành kh ng c mặt tại địa phư ng nên c quan điều tra đã tách ra điều tra làm rõ
lý sau nên Hội đồng t kh ng đề cập.
Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự s th m: C n buộc bị cáo Phạm Thị L phải chịu 200.000đ T án phí hình sự s th m theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội.
Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự: Bị cáo Phạm Thị L phải chịu án phí dân sự đối với số T 65 triệu đồng bị cáo phải trả cho anh Đỗ Văn T.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
X phạ : Bị cáo Phạm Thị L 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 28/9/2021.
*) Về vậ chứng và x lý vậ chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1 điểm a khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại cho bị cáo Phạm Thị L 01 (một) chi c điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng vỡ màn hình gắn sim số 0904.289.060 đã qua s dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) chi c uồng máy biển kiểm soát QN-1731 gắn động c YAMAHA c ng su t 48CV màu anh đã qua s dụng c Gi y chứng nhận đăng ký phư ng tiện thủy nội địa số 4593/ĐK ngày 23/4/2007 mang tên C ng ty cổ ph n thư ng mại & dịch vụ Hảo Hà.
Toàn bộ số v t chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân s thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nh n v t chứng số 16/2022/THA, ngày 19/11/2021.
*) Về phần dân sự:
Căn cứ khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015; điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quy t số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;
Ghi nhận thỏa thuận tại phiên tòa giữa bị cáo và người c quyền lợi nghĩa vụ L quan: Bị cáo Phạm Thị L phải trả cho anh Đỗ Văn T 65.000.000đ (sáu mư i lăm triệu đồng).
Kể từ ngày anh Đỗ Văn T c đ n yêu c u thi hành án cho đ n khi thi hành ong bị cáo Phạm Thị L còn phải chịu khoản T lãi của số T còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại Điều 357 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
*)Về nghĩa vụ chịu án phí sơ hẩm:
Về án phí hình sự s th m: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Thị L phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngh n đồng) T án phí hình sự s th m.
Về án phí dân sự: Căn cứ vào điểm c f khoản 1 Điều 23 Điều 26 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Thị L phải chịu 3.250.000đ (ba triệu hai trăm năm mư i nghìn đồng) T án phí dân sự.
*) Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào khoản 1 khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo người c quyền lợi nghĩa vụ L quan c quyền kháng cáo bản án s th m trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại c quyền kháng cáo bản án s th m trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm y t theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố Móng Cái; - Công an thành phố Móng Cái; - B cáo; B hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan; - S tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Thi hành án HS+DS; - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHI N TÒA (đã ký) Đoàn Minh Chiến |