vanban.org

Bản án 148/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn Th phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Dương Văn Th 15 ( mười lăm) Tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 ( ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Dương Văn Th cho UBND phường Ng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Thanh phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn Th phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2020/HS-ST
Ngày: 28/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- -Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Các Hội thẩm nhân dân: 1. ¤ng Lê Văn Tám

2. Ông Nguyễn Văn Quý

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:

Ông Nguyễn Duy Ninh - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Quỳnh Trang - KiÓm s¸t viªn

Ngày 28/ 5/ 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 143/ 2020/ HSST ngày 29/ 4/ 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/QĐXXST- HS ngày 13/ 5/ 2020 đối với bị cáo:

Dương Văn Th - sinh 1959; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: SN A, đường Th, Phường Ng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: LĐTD; Văn hóa: 0 /12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Dương Văn S và bà Nguyễn Thị X; Vợ là Hoàng Thị B và có 02 ( Con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1991); Tiền án, Tiền sự : Không ; Bị cáo tại ngoại - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại : Anh Lê Văn T – Sinh năm 1973 – Vắng mặt tại phiên tòa

Địa chỉ : SN A, đường Th, Phường Ng, thành phố Thanh Hóa ;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h00 ngày 16/03/2020, chị Hoàng Thị Tr ( vợ anh T) sang nhà ông Dương Văn Th là hàng xóm bên cạnh nhờ sang lấy chiếc nồi cơm điện để ở trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ xuống cho chị Tr. Trong quá trình ông Th đứng lấy chiếc nồi cơm điện xuống thì có một xấp tiền 36.000.000đ gồm 72 tờ mệnh giá 500.000đ, rơi từ trên nóc tủ xuống nền nhà. Nguồn gốc xấp tiền là do ngày 15/3/2020 anh Lê Văn T chồng chị Tr cất trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ. Lợi dụng sơ hở khi chị Tr không để ý, ông Thanh đã lén lút trộm cắp toàn bộ số tiền trên cho vào túi áo mình rồi đi về nhà.

Đến 12h ngày 16/3/2020, khi đi làm về phát hiện không thấy tiền của mình đâu, nên anh Lê Văn T đã trình báo Công an phường Ngọc Trạo, thành phố Thanh Hóa. Sau khi được Công an phường triệu tập làm việc, ông Dương Văn Th đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản và tự nguyện giao nộp toàn bộ số tiền 36.000.000đ.

Ngày 23/3/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả 36.000.000đ cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Văn T. Sau khi nhận lại tài sản, người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 137/CT-VKSTPTH ngày 28/4/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Dương Văn Th về tội “ Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s , v Khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 của BLHS.

Xử phạt: Dương Văn Th từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiếm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

[ 2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 11h ngày 16/3/2020, tại số nhà 19/76 Thôi Hữu, phường Ngọc Trạo, thành phố Thanh Hóa. Trong lúc lấy hộ chiếc nồi cơm điện xuống cho chị Tr, thấy bọc tiền của anh T chồng chị Tr cất rơi xuống, nên bị cáo đã lén lút trộm cắp bọc tiền 36.000.000đ đem về nhà.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Dương Văn Th về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bản thân bị cáo là con người lương thiện, chưa có tiền án, tiền sự và luôn chấp hành tốt các quy định của nhà nước và pháp luật. Nhưng ngày 16/3/2020 trong lúc lấy hộ nồi cơm điện xuống cho chị Tr, thấy bọc tiền rơi xuống, bị cáo đã nảy sinh lòng tham, nên lét lút lấy bọc tiền cho vào túi áo rồi đi về nhà. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, nên cũng cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; Tự nguyện giao lại tài sản cho bị hại; Bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo có thành tích phục vụ trong quân đội nhân dân Việt nam được tặng Huân Chương Chiến Sĩ Vẻ Vang. Nên khi xem xét hình phạt cũng cần áp dụng Điểm h, i, s Khoản 1,2 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[ 5] Về hình phạt:

Bị cáo tuổi đã cao, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; Luôn chấp hành tốt chủ trương chính sách của nhà nước, bị cáo chỉ nhất thời phạm tội; Có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng. Do đó việc cách ly Bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội là không cần thiết mà nên áp dụng Điều 65 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ sức giáo dục Bị cáo và phòng ngừa chung. Thời gian thử thách được tính theo quy định tại Điều 4 NQ số 02/ 2018 ngày 15/ 5/ 2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao.

[ 5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự, nên công nhận phần dân sự giữa bị cáo với bị hại đã được giải quyết xong.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

V× c¸c lÏ trªn,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s Khoản 1,2 Điều 51 của BLHS; Điều 65 của BLHS.

Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn Th phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xö ph¹t:

Dương Văn Th 15 ( mười lăm) Tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 ( ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Văn Th cho UBND phường Ng, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 92 Luật THA hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo với bị hại đã được giải quyết xong.

VÒ ¸n phÝ: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ