vanban.org

Bản án 148/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 19/10/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị L và anh G được ly hôn.

Về nuôi con chung và tài sản chung: Chị Đinh Thị L và anh G không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đinh Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ 300.000 đồng (ba tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị L và anh G xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị L và anh G được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 151 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 152 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2020/HNGĐ-ST
Ngày 19-10-2020
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Hồ Điệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Ông Nguyễn Huy Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 19 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 138/2020/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị L, sinh năm 1995, nơi cư trú: Thôn 3, xã Phả Lễ, huyện TN, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;

2.Bị đơn: Anh G, sinh năm 1974; địa chỉ: Số 403, Daesim-ri, Yecheon-eup, Yedion-gun, Gyeong Sangbuk-do, Hàn Quốc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Đinh Thị L trình bày:

Chị và anh G quen biết nhau và đã tổ chức đính hôn tại thành phố Hải Phòng vào ngày 13 tháng 12 năm 2015. Đến ngày 01 tháng 3 năm 2016, anh chị làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng. Sau đó, ngày 02 tháng 10 năm 2016, chị L sang Hàn Quốc đoàn tụ cùng chồng. Khi sang Hàn Quốc được gần 3 tháng, chị và anh G phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về tính cách, quan điểm sống. Đến ngày 13 tháng 3 năm 2017, chị L trở về Việt Nam. Anh chị ly thân từ đó đến nay. Đến nay, nhận thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh G.

Về con chung: Chị và anh Gkhông có con chung.

Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai của anh Gcó hợp pháp hóa lãnh sự trình bày:

Anh và chị Đinh Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, hai người đang sang Hàn Quốc chung sống, được một thời gian khoảng 03 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Sau đó chị L bỏ ra ngoài. Kể từ đó anh chị không hề liên lạc với nhau và gặp nhau. Đến nay, chị L liên lạc đề nghị ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Đinh Thị L không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền: Chị Đinh Thị L làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn với anh G. Anh G hiện đang cư trú tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Chị Đinh Thị L và anh G vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có ý kiến yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị L và anh G kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày ngày 01 tháng 3 năm 2016 tại UBND huyện TN, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Chị Đinh Thị L và anh G xác định không còn tình cảm và yêu thương nhau và không còn khả năng đoàn tụ. Hiện anh G sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc còn chị Đinh Thị L ở Việt Nam. Xét việc chị Đinh Thị L và anh G cùng thuận tình ly hôn là tự nguyện. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh G đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị L và anh G theo quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Anh chị không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Anh chị không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đinh Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 55 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 151, Điều 152, Điều 153, Điều 154, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 470, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị L và anh G được ly hôn.

2. Về nuôi con chung và tài sản chung: Chị Đinh Thị L và anh G không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đinh Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số AA/2016/0008658 ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Đinh Thị L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị Đinh Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Anh G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ