vanban.org

Bản án 148/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 18/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS; Điều 136, Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử phạt: Hoàng Văn C 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn C - phạm tội Cướp tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2019/HS-ST
Ngày: 18/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Sách và bà Phan Thị Nhụ;

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy - Thư ký TAND huyện Quế Võ;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông

Phùng Đắc Dũng - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ xét xử

sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2019/HSST ngày 29 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Hoàng Văn C, sinh năm 1992;

HKTT: thôn Hữu Bằng, xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; nghề

nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: 01 (Ngày 26/10/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/2018); nhân thân: Ngày 10/11/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 42 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 31/3/2012; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2019 đến nay, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

Người bị hại: Anh Nguyễn T, sinh năm 1989 – Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn Tân Thịnh, xã Bồng Lai, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 21/7/2019, Hoàng Văn C điều khiển xe mô tô

Yamaha Sirius màu xanh BKS 99F7-9715 từ thị xã Từ Sơn về nhà, trên đường về do không có tiền tiêu sài cá nhân, C nảy sinh ý định xem ai có sơ hở sẽ thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực đầu thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, C điều khiển xe mô tô rẽ phải đi vào trong ngõ, đi được khoảng 30 mét, thì phát hiện anh Nguyễn T đang ngồi ở cổng khu nhà trọ của gia đình bà Nguyễn Thị B trên tay đang cầm chiếc điện thoại Iphone 8 Plus 64 GB màu đen chơi điện tử. C điều khiển xe mô tô đi qua khoảng 5 m, quan sát xung quanh không có người nên điều khiển xe mô tô quay lại đồng thời điều chỉnh xe về số 3 và dùng chân giữ cần số xe ở giữa số 2, số 3 và để xe tự trôi đến chỗ anh T ngồi, mục đích để xe không phát ra tiếng nổ và tiện cho việc bỏ chạy khi chiếm đoạt được tài sản. Khi đến chỗ anh T, C điều khiển xe mô tô áp sát anh T và dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại của anh T rồi nhả cần số, phóng xe bỏ chạy. Thấy vậy, anh T có đuổi theo và hô “Cướp, cướp”. C điều khiển xe mô tô bỏ chạy được khoảng 10 mét thì anh T đuổi kịp, tay phải cầm vào tay nâng phía sau xe kéo lại, C sợ tăng ga bỏ chạy đã bị ngã đổ xe mô tô xuống đường bê tông, chiếc điện thoại của anh T bị rơi xuống đường. Thấy anh T vẫn tri hô và đuổi theo, C sợ bỏ chạy ra ngoài đường chính rồi chạy vào bãi tham ma ở gần đó lấp đến sáng ngày 22/7/2019 thì đi bộ ra Quốc lộ 18 bắt xe buýt đi về nhà. Ngày 22/7/2019, anh T làm đơn trình báo và giao nộp cho Công an huyện Quế Võ: 01 điện thoại Iphone 8 Plus 64 GB màu đen; 01 xe mô tô Sirius màu xanh BKS 99F7-9715 trong cốp xe có 01 điện thoại NOKIA 6600 màu đen đã qua sử dụng.

Ngày 23/7/2019, Hoàng Văn C đến Công an huyện Quế Võ đầu thú khai nhận

toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 61/KL-ĐGTS ngày 26/7/2019 của Hội đồng

định giá tài sản trong tố tụng hình sự hình sự huyện Quế Võ kết luận: “Chiếc điện thoại Iphone 8 Plus 64 GB màu đen đã qua sử dụng có trị giá 11.200.000đ”.

Ngày 28/8/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Võ đã trả lại

cho anh T chiếc điện thoại Iphone 8 Plus 64 GB màu đen.

Bản Cáo trạng số 141/CT-VKS ngày 29 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát

nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố bị cáo Hoàng Văn C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Văn C khai nhận: Do cần tiền tiêu sài cá

nhân nên nảy sinh ý định tìm người đi đường sơ hở để cướp giật tài sản. Khi nhìn thấy anh T đang ngổi ở cổng nhà trên tay cầm chiếc điện thoại xem không để ý đến xung quanh nên bị cáo đã cho xe trôi đến chỗ anh T và dùng tay phải giật chiếc điện thoại rồi phóng xe bỏ chạy thì bị anh T đuổi theo túm vào đuôi xe máy khiến bị cáo bị đổ xe và ngã ra đường đồng thời chiếc điện thoại bị văng ra đường. Bị cáo đã bỏ chạy để thoát thân, đến 23/7/2019 thì ra cơ quan công an đầu thú. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng của VKSND huyện Quế Võ truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là đúng.

Người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều

tra và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên

tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Căn cứ vào hành vi phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm

h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Hoàng Văn C từ 42 đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/7/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu xung

công quỹ nhà nước chiếc xe mô tô Yamaha Sirius màu xanh có số máy 3S41-001355, số khung RLCS3S4105Y001355; tịch thu tiêu hủy BKS 99F7-9715; trả lại cho bị cáo C chiếc ĐTDĐ Nokia 6600 màu đen đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án. Đối với chiếc điện thoại Iphone 8 plus đã trả cho anh T nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không đề nghị bồi

thường gì nên không đặt ra xem xét.

Bị cáo C không tham gia tranh luận gì thêm chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ

hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quế

Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai

của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, HĐXX thấy có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 21/7/2019, tại cổng khu nhà trọ của bà Nguyễn Thị Bốn ở thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, bị cáo Hoàng Văn C có hành vi điều khiển xe mô tô Sirius màu xanh BKS 99F7-9715 giật chiếc điện thoại Iphone 8 Plus 64 GB màu đen trị giá 11.200.000 đồng của anh Nguyễn T. Hành vi dùng xe mô tô để thực hiện việc cướp giật tài sản là thủ đoạn nguy hiểm ( Được hướng dẫn tại mục I, tiểu mục 5.3 của Thông tư liên tịch số: 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ công an và Bộ tư pháp “Hướng dẫn một số quy định tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999”) nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ truy tố bị cáo Hoàng Văn C về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền

sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng và tạo dư luận xấu trong xã hội. Bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, đang trong độ tuổi lao động nhưng vì lười lao động, muốn kiếm tiền bằng thủ đoạn bất chính, bất chấp hành vi có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe, tính mạng của người khác. Do đó cần xử phạt bị cáo nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX

nhận thấy: Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, hiện đang có 01 tiền án nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo ra đầu thú, người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX sẽ xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Do bị cáo không có công ăn việc làm, không có tài sản nên HĐXX quyết định

không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại.

Anh T cũng không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Sirius màu xanh có số

máy 3S41-001355, số khung RLCS3S4105Y001355, C khai mua của một người thanh niên không quen biết. Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ đã quyết định trưng cầu giám định số máy, số khung và tra cứu thông tin, nguồn gốc chiếc xe mô tô và biển kiểm soát 99F7-9715. Kết quả: Số máy, số khung của chiếc xe mô tô trên là nguyên thủy nhưng không xác định được nguồn gốc xe. Do C sử dụng chiếc xe làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu xung công quỹ nhà nước. Đối với chiếc biển kiểm soát 99F7-9715 đăng ký tên anh Nguyễn Trung Kiên, sinh năm 1982 ở thôn Châu Cầu, xã Châu Phong, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Anh Kiên khai nhận chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát trên, năm 2010 xe bị hỏng nên anh đã bán sắt vụn. Do vậy cần tịch thu tiêu hủy chiếc BKS này. Cần trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động Nokia 6600 của bị cáo, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Ngoài hành vi của bị cáo C ở vụ án này, C còn khai nhận đã thực hiện 03 vụ

cướp giật điện thoại trên địa bàn huyện Quế Võ. Trong đó, đã thu giữ được 01 điện thoại OPPO Find 7 màu đen trị giá 700.000 đồng, C đã bán cho Nguyễn Văn Mạnh, sinh năm 1988 ở thôn Hữu Bằng, xã Ngọc Xá, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Đến nay, 03 vụ cướp giật tài sản trên chưa xác định được người bị hại. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ đã tách ra, tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm

h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS; Điều 136, Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử phạt:

Hoàng Văn C 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ,

tạm giam ngày 23/7/2019. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu xung

công quỹ nhà nước chiếc xe mô tô Yamaha Sirius màu xanh có số máy 3S41-001355, số khung RLCS3S4105Y001355; tịch thu tiêu hủy BKS 99F7-9715; trả lại cho bị cáo C chiếc ĐTDĐ Nokia 6600 màu đen đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án (Theo Biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 08 giờ 05 phút ngày 30/10/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ).

3. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn C phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận

được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ