- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo từ Hải Thanh S bị xét xử về tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (đi…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 148/2019/HS-PT Ngày: 18-6-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lê Khắc Thịnh
Các ẩ
:
Ông Lê Hồng Nước
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thư T a án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 107/2019/TLPT-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 ối với ị cáo Từ Hải Thanh S. Do c háng cáo c a ị cáo ối với bản án h nh sự sơ thẩm số: 04/2019 HS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2019 c a T a án nhân dân huyện T.
-
có
Từ Hải Thanh S, sinh năm 19XX; Hộ khẩu thường trú: Khu phố D, phường T, thị xã T, t nh B; Chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã T, huyện T, t nh Đ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Tr nh ộ văn h a: XX/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Từ Văn L, sinh năm 19XX ( ã chết) và bà Lê Thị L1, sinh năm 19XX; Vợ tên: Nguyễn Thị U1, sinh năm 19XX; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 19XX, nhỏ nhất sinh năm 2XXX; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Từ Hải Thanh S theo yêu cầu là luật sư Nguyễn Mộng Điệp - Văn phòng luật sư Sài Gòn Tây Nguyên, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
N ười b hại trong vụ án không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng ngh .
NỘI NG V N:
ệ
ụ
ạ ụ
ư
ư
Ngày 03/7/2018, Từ Hải Thanh S i làm thuê và có uống rượu với mấy người bạn. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, S về ến nhà không thấy vợ con ở nhà nên i sang nhà cha mẹ vợ là ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị T, cách nhà S khoảng 200m, ể tìm vợ tên Nguyễn Thị U1 (khi chị U1 i thành phố Hồ Chí Minh thăm người thân bệnh mà không thông báo cho S biết). Khi i, S mang theo một con dao có cán bằng nhựa màu xanh, dài 11cm, rộng 03cm, dày 01cm, lưỡi bằng kim loại màu en dài 15cm, rộng 04cm dự ịnh ể ốn cây chuối về nhà nấu canh chua. Đến nhà ông Đ, S cự cãi với mẹ vợ là bà T rồi hăm dọa cắt cổ con c a anh Nguyễn Bá D, dọa cắt cổ ông Đ và bà T. Lúc này, ông Đ và bà T ang nằm trong mùng trên giường ng . Chị Trần Thị Bích N là vợ anh D chạy ến bế ứa con i ra sau nhà và gọi anh D ở ngoài ruộng về. Anh D về ến nhà nghe S la lớn tiếng nên kêu S về nhà ng và dùng hai tay nắm áo ở ngực trái và nắm phần trên cánh tay trái c a S lôi và kéo S ra trước cửa nhà. S kêu D buông ra nhưng D không buông. S và anh D ứng ối diện nhau thì S dùng tay phải ang cầm con dao ưa về phía anh D chém một cái từ trên xuống trúng vào vành tai bên trái, cổ và ngực trái c a anh D gây thương tích. Thấy D bị chảy máu ở vùng mặt nên S cầm dao chạy ra lộ i về hướng nhà mình. Anh D uổi theo ném cây về phía S nhưng không trúng. D dùng cây ập bể ốp mặt trước xe c a S và xô ngã xuống lề ường. S i ược một oạn khoảng 20m thì quăng bỏ con dao xuống cặp lộ phía bờ sông rồi i tiếp. Trên ường i, S gặp anh H và nhờ anh H quay lại nhà ông Đ giúp S ỡ xe lên. S dắt xe ến tiệm c a anh X sửa xe rồi chạy xe về nhà và ra vườn tràm trốn vì sợ bị ánh.
Tại bản kết luận giám ịnh pháp y Số 237 ngày 19/7/2018 c a Trung tâm giám ịnh pháp y t nh Đồng Tháp thể hiện: “Thương tích: sẹo vết thương phần mềm vành tai trái kích thước 04cm x 0,1cm lành xấu ảnh hưởng thẩm mỹ; sẹo vết thương phần mềm cổ trái kích thước 03cm x 0,1cm lành; sẹo vết thương phần mềm ngực trái kích thước 05cm x 0,1cm”. Kết luận: tỷ lệ thương tật c a anh Nguyễn Bá D tại thời iểm giám ịnh là 13%.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây án, S ã bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Nguyễn Bá D số tiền 2.000.000 . Anh D ã nhận số tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bị cáo không yêu cầu anh D bồi thường thiệt hại do anh D làm hư hỏng xe mô tô c a bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan iều tra ã thu giữ: 01 (một) con dao có phần cán bằng nhựa màu xanh dài 11cm, rộng 03cm, dày 01cm, phần lưỡi bằng kim loại màu en dài 15cm, rộng 04cm.
Tại ản án số 04/2019/HS-ST ngày 07/3/2019 c a T a án nhân dân huyện T ã quyết ịnh:
Tuyên bố: Bị cáo Từ Hải Thanh S phạm tội “Cố ý ây ư
í ”.
Áp dụng iểm khoản 2 Điều 134; iểm b, s khoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 54 c a Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo Từ Hải Thanh S 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm c n tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền háng cáo theo luật ịnh.
Ngày 13 tháng 3 năm 2019, ị cáo Từ Hải Thanh S c ơn háng cáo với nội dung xin hưởng án treo.
Tại phiên t a phúc thẩm, ị cáo Từ Hải Thanh S bổ sung háng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và ược hưởng án treo.
Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp phát iểu quan iểm: Hành vi c a bị cáo Từ Hải Thanh S bị T a án cấp sơ thẩm quy ết về tội “Cố ý gây thương tích” theo iểm hoản 2 Điều 134 Bộ luật h nh sự là c căn cứ, úng người, úng tội và úng quy ịnh c a pháp luật. X t mức hình phạt 01 năm tù mà cấp sơ thẩm áp dụng ối với bị cáo là phù hợp. Sau hi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và ược hưởng án treo với lý do bị cáo là lao ộng chính trong gia nh c hoàn cảnh h hăn, ơn chiếc, chăm s c con còn nhỏ; vợ bị cáo ã ỏ gia nh i, hông c n chung sống với bị cáo; người bị hại tiếp tục xin cho bị cáo ược hưởng án treo. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy ịnh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem x t cho ị cáo. Tuy nhiên, những tình tiết này không là những tình tiết ược áp dụng cho bị cáo hưởng án treo theo quy ịnh c a pháp luật. Do , ề nghị Hội ồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo c a bị cáo Từ Hải Thanh S, sửa phần Quyết ịnh c a ản án sơ thẩm về hình phạt, giảm nhẹ cho bị cáo từ 01 tháng ến 03 tháng tù.
Luật sư ào chữa cho bị cáo phát biểu quan iểm thống nhất với quan iểm c a vị ại diện Viện kiểm sát về tội danh và iều khoản c a tội danh áp dụng ối với bị cáo. Đồng thời, vị luật sư cũng nêu ra những tình tiết như ị cáo là lao ộng chính trong gia nh c hoàn cảnh h hăn về kinh tế, chăm s c con còn nhỏ và phụng dưỡng mẹ già; vợ bị cáo ã ỏ gia nh i, hông c n chung sống với bị cáo; người bị hại tiếp tục xin cho bị cáo ược hưởng án treo, ể ề nghị Hội ồng xét xử xem xét cho bị cáo ược giảm nhẹ hình phạt và ược hưởng án treo.
Trong phần tranh luận, ị cáo S thống nhất với quan iểm bào chữa c a vị luật sư, bị cáo hông tranh luận gì thêm mà ch xin ược hưởng án treo.
NH N Đ NH CỦA T A N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án ã ược tranh tụng tại phiên t a, Hội ồng x t xử nhận ịnh như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Từ Hải Thanh S ã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình. Lời khai nhận tội c a bị cáo phù hợp với lời khai c a bị cáo tại cơ quan iều tra, phù hợp với lời hai c a người bị hại, vật chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, cơ sở ể xác ịnh: Khoảng hơn 18 giờ ngày 03/7/2018, bị cáo Từ Hải Thanh S có hành vi dùng con dao có phần cán bằng nhựa màu xanh dài 11cm, rộng 03cm, dày 01cm, phần lưỡi bằng kim loại màu en dài 15cm, rộng 04cm, chém một nhát từ trên xuống trúng vào vành tai bên trái, cổ và ngực trái c a anh D gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13% tại thời iểm giám ịnh.
[2] Hội ồng xét xử xét thấy hành vi c a bị cáo S là nguy hiểm cho xã hội ã xâm phạm ến sức khỏe c a người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người ã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển nh thường, có khả năng iều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức ược pháp luật, c
năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy ịnh. Xuất phát từ việc vợ bị cáo là Nguyễn Thị U1 i thành phố Hồ Chí Minh thăm người thân bệnh mà không thông báo cho bị cáo biết, bị cáo ến nhà cha, mẹ vợ ể tìm rồi cự cãi với mẹ vợ và còn hăm dọa cắt cổ con c a anh D, dọa cắt cổ cha, mẹ vợ. Khi anh D về ến nhà nghe bị cáo la lớn tiếng nên kêu bị cáo về nhà ng và dùng hai tay nắm áo, nắm tay bị cáo lôi ra trước cửa nhà. Trước sự việc như vậy, lẽ ra bị cáo phải biết tự kiềm chế bản thân ể tìm cách giải quyết mâu thuẩn một cách tế nhị và úng ắn. Còn nếu như sự việc có trầm trọng hơn mà hai ên hông thể tự giải quyết ược thì có thể nhờ chính quyền ịa phương can thiệp, giải quyết. Bị cáo không làm ược như vậy mà ngược lại, với bản chất hung hăn, côn ồ, thích dùng bạo lực ể giải quyết mọi xung ột, mâu thuẫn xảy ra và thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo ã c hành vi như ã nêu trên. Bị cáo nhận thức ược con dao bằng kim loại là hung khí nguy hiểm, nhận thức ược hành vi dùng dao ch m vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng ị cáo vẫn thực hiện và hậu quả ã xảy ra làm cho anh D bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%, chứng tỏ việc phạm tội c a bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm ã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm ã x t xử bị cáo Từ Hải Thanh S về tội “Cố gây thương tích” theo iểm hoản 2 Điều 134 Bộ luật h nh sự, là c căn cứ, úng pháp luật. Mức h nh phạt mà án sơ thẩm ã tuyên ối với bị cáo là không nặng, hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức ộ nguy hiểm c a hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, ã cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ ối với ị cáo và ã áp dụng mức hình phạt dưới hung ối với bị cáo. Bị cáo háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và ược hưởng án treo có cung cấp các tình tiết mới là vợ bị cáo ã ỏ nhà i không còn chung sống với bị cáo. Hiện tại, bị cáo là lao ộng chính trong gia nh c hoàn cảnh h hăn về kinh tế, ang phụng dưỡng mẹ già và chăm s c con c n nhỏ. Trong giai oạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, người bị hại tiếp tục xin cho bị cáo ược hưởng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy ịnh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem x t cho ị cáo. Tuy nhiên, những tình tiết này không phải là căn cứ ể áp dụng cho bị cáo ược hưởng án treo theo quy ịnh c a pháp luật. Do , chấp nhận một phần kháng cáo c a bị cáo S, sửa phần quyết ịnh c a bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] X t ề nghị c a vị ại diện Viện kiểm sát tại phiên t a ối với bị cáo S là hoàn toàn c căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội ồng xét xử chấp nhận.
Xét lời bào chữa c a vị luật sư cho ị cáo là có căn cứ một phần như Hội ồng xét xử ã nhận ịnh ở phần trên nên chấp nhận một phần ề nghị c a luật sư.
[5] Do kháng cáo c a bị cáo S ược chấp nhận một phần nên ị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật ịnh.
Các phần khác c a quyết ịnh ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ vào iểm b hoản 1 Điều 355; iểm c hoản 1 Điều 357 c a Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo Từ Hải Thanh S. Sửa phần quyết ịnh c a bản án hình sự sơ thẩm về phần h nh phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Từ Hải Thanh S phạm tội “Cố ý ây ư
í ”.
Áp dụng iểm khoản 2 Điều 134; iểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 c a Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Từ Hải Thanh S 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo i thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Từ Hải Thanh S không phải chịu án phí h nh sự phúc thẩm.
Các phần khác c a quyết ịnh án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N i nh n:
| - TANDTC - Vụ Giám ốc kiểm tra 1; - Ban Nội chính T nh y: - Sở Tư pháp T nh; - VKSND T nh; - Cơ quan THAHS Công an T nh; - Trại tạm giam Công an T nh; - TA-VKS-THADS huyện T; - CQCSĐT Công an huyện T; - Bị cáo; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an T nh; - Phòng KTNV-THA.TA T nh; - Lưu: VT, HSVA (M). | TM. HỘI ĐỒNG X T X H C TH M TH M H N - CHỦ T A HI N T A (Đã ký) Lê Khắc Thịnh |