- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Hòa - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 148/2018/HSST. Ngày: 04 - 9 - 2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.
Các Hội thẩm nhân nhân: Ông Lò Văn Quốc + Bà Trương Thị Thủy.
Thư ký phiên toà: Bà Ông Lê Văn Tiến Dũng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 151/2018/HSST ngày 09 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Bùi Văn H; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1989; nơi cư trú: Xóm Nh, xã Y P, huyện L S, tỉnh Hòa Bình; dân tộc: Mường; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; Con ông: Bùi Văn N – SN: 1957 và bà Bùi Thị C – SN: 1955; Bị cáo có vợ là Quách Thị T – SN: 1994 và có 01 con 04 tuổi ; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 31/5/2018 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Lường Văn T – SN: 1971, địa chỉ: Bản P II, xã Ch L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ( Có mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 31/5/2018, tại khu vực bản Chộ, xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an xã Chiềng Pha, trong quá trình làm nhiệm vụ đã phát hiện bắt quả tang đối tượng Bùi Văn H ( SN: 1989, trú tại: Xóm Nh - Y P - LS - Hòa Bình ) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản. Vật chứng tạm giữ gồm:
- 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa một ít bột cục màu trắng ( Theo đối tượng H khai nhận là Heroin );
- 01 bao thuốc lá Thăng Long, màu vàng, bên trong có 03 điều thuốc lá;
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại xe WAVE α, đã qua sử dụng cũ.
Kết quả cân tịnh gói bột màu trắng thu giữ của đối tượng H, có khối lượng là 0,16 gam, lấy toàn bộ 0,16 gam đánh ký hiệu H1 làm mẫu vật gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số: 678/KLMT ngày 04/6/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu H1 gửi giám định là chất ma túy; Loại chất Heroin, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,16 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ của Bùi Văn H là 0,16 gam Heroin ( Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định ).
Tại kết luận số: 173/KL-HĐĐG ngày 04/6/2018 về tố tụng hình sự của Hội đồng định giá tài sản huyện Thuận Châu xác định: Giá trị chiếc xe mô tô 02 bánh theo đề nghị định giá tài sản của Công an huyện Thuận Châu tại Công văn số: 2814/CV ngày 04/6/2018 ( Loại xe WAVE, màu sơn đen bạc, nhãn hiệu HONDA, do Việt Nam sản xuất, đã qua sử dụng và mua năm 2006, còn 35 % giá trị sử dụng ) có giá 4.550.000đ ( Bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng ).
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, bị can Bùi văn H đã khai nhận như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 30/5/2018, Bùi Văn H đón xe Bus từ thành phố Sơn La, lên bản Thôm, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến đoạn ngã ba giao nhau giữa Quốc lộ 6A và đường rẽ vào bản Thôm, xã Thôm Mòn, thì H xuống xe đi bộ vào bản Thôm, sau đó H gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết 01 gói Heroin được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 50.000đ ( Năm mươi nghìn đồng ), trên đường đi bộ ra Quốc lộ 6A thì Hòa rẽ xuống bờ ruộng bên trái san một ít Heroin vừa mua được ra sử dụng, số còn lại thì H dấu trong bao thuốc lá Thăng Long và cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và tiếp tục đi bộ ra Quốc lộ 6A, gọi điện cho một đối tượng tên C ( Người H mới quen ở thị trấn Thuận Châu ) bảo C đi xe máy đến đón H về nhà C. H ở lại nhà C cho đến 08 giờ 30 phút ngày hôm sau ( 31/5/2018 ) thì một mình đi bộ ra Quốc lộ 6A với mục đích đón xe khách đến huyện Tuần giáo, tỉnh Điện Biên để tìm người làm thuê. Sau một thời gian đứng đón xe không được nên H đi bộ dọc theo Quốc lộ 6A đến đoạn bản Pán II, xã Chiềng Ly thì nhìn thấy có khoảng 05 đến 06 chiếc xe máy đang dựng trước cửa nhà dân ven đường, lúc này H nảy sinh ý định trộm cắp 01 chiếc xe làm phương tiện đi lại nên đã tiến đến gần 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE α đang cắm sẵn chìa khóa ở ổ khóa rồi ngồi lên xe nổ máy và điều khiển xe chạy theo hướng Sơn La – Điện Biên. Tuy nhiên khi H điều khiển xe đến đoạn đường thuộc khu vực bản Chộ, xã Chiềng Pha, huyện Thuận Châu, thì bị tổ công tác Công an xã Chiềng Pha phát hiện bắt giữ cùng vật chứng là gói Heroin và chiếc xe máy vừa trộm cắp được như đã nêu ở trên.
Tại cơ quan Điều tra bị hại – Ông Lường Văn T có ý kiến: Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE α do bị cáo chiếm đoạt thuộc quyền sở hữu của ông Toán. Quá trình điều tra ông Toán đã được cơ quan Điều tra giao trả vật chứng là chiếc xe máy. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm mà đề nghị xét xử hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 119/CT - VKS ngày 09/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Bùi Văn H về các tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, giữ quan điểm truy tố bị cáo Bùi Văn H, về các tội danh và điều khoản luật áp dụng như trên.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 – điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 - Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 – điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 - Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội: Trộm cắp tài sản và xử phạt bị cáo mức án từ 09 đến 12 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo.
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Tổng hợp hình phạt chung về 02 tội danh đối với bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giữ bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Do bị hại - Ông Lường Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự, nên tại phiên tòa không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- Chấp nhận viêc cơ quan Điều tra đã giao trả chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE α cho bị hại là ông Lường Văn T.
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ số vật chứng gồm: 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bóc dở bên trong có chứa 03 điều thuốc lá.
Đề nghị tuyên tiếp tục tạm giữ vật chứng ( Tạm giữ bổ sung trong quá trình điều tra ) là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu FPT của bị cáo để đảm bảo biện pháp thi hành án về án phí đối với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo H có ý kiến: Thừa nhận ngày 31/5/2019 đã bị bắt giữ về các hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và Trộm cắp tài sản. Nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội đều do bị cáo nghiện ma túy mà ra. Nay bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được đoàn tụ gia đình.
Tại phiên tòa bị hại – Ông Lường Văn T có ý kiến: Thừa nhận ngày 31/5/2019 đã bị kẻ giam trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE α. Tuy nhiên đã được cơ quan Điều tra phát hiện thủ phạm là bị cáo Bùi Văn H, thu giữ và giao trả vật chứng là chiếc xe máy. Nay ông toán không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất cứ khoản gì về trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm hình sự thì đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về nội dung: Ngày 31/5/2018, bị cáo Bùi Văn H ( Có căn cước lý lịch như trên ) đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam Hêroin và chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE α trị giá 4.550.000đ ( Bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng ) của bị hại là ông Lường Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy:
- Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam Hêroin, xét bản thân bị cáo là người có đủ nhận thức pháp luật để biết rõ mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều nguy hiểm cho xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm. Tuy nhiên vì nghiện hút nên bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật mà cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo, vật chứng thu giữ, kết luận giám định về vật chứng thu giữ là Heroin đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn H đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Đối với hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE α trị giá 4.550.000đ, tương tự về nhận thức của bị cáo đối với hành vi chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng để đạt được mục đích để có phương tiện phục vụ cá nhân mà cố ý chiếm đoạt của người bị hại. Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo, lời khai của bị hại về vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản là chiếc xe máy bị cáo chiếm đoạt cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở kết luận: Ngày 31/5/2018 ngoài hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, thì bị cáo bị cáo Bùi Văn H còn phạm thêm một tội thứ hai đó là tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Như bản Cáo trạng truy tố và bản luận tội tại phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ”.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi; Trong khoảng thời gian ngắn bị cáo liên tiếp phạm nhiều tội bao gồm: Tội xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý gây hại đến sức khỏe của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển . . . trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng và thực tế nguyên nhân điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản của bị cáo trong vụ án cũng là một hệ quả tất yếu từ tội phạm Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo thực hiện liền trước đó gây ra. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Do đó cần phải áp dụng các chế tài hình phạt tù được quy định tại khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo nhằm trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
Vụ án xét xử bị cáo về 02 tội danh, do đó cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự; Để tổng hợp hình phạt của 02 tội đã phạm với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử về 02 tội phạm ( Tàng trữ trái phép chất ma túy và Trộm cắp tài sản ) bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, bị cáo có mẹ đẻ ( Bùi Thị C ) được Chủ tịch nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì. Nên được áp dụng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đối với 02 tội danh bị cáo đã phạm.
Đối với hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 173 BLHS năm 2015; Xét bị cáo đều không có điều kiện thi hành, do đó Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng.
Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Trách nhiệm bồi thường dân sự của bị cáo trong tội phạm trộm cắp tài sản: Xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị hại là ông Lường Văn T không yêu cầu. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.
Xử lý vật chứng:
- Xét việc cơ quan Điều tra đã trả lại số vật chứng là chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE α cho bị hại ông Lường Văn T là có căn cứ và đúng thẩm quyền, theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 nên được chấp nhận.
- Đối với số vật chứng đang tạm giữ gồm: 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bóc dở bên trong có chứa 03 điều thuốc lá. Cần áp dụng các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm - khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu FPT tạm giữ của bị cáo. Kết quả điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên không tuyên trả mà cần tuyên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành bản án về án phí đối với bị cáo.
Đối với lời khai của bị cáo về người đàn ông bán cho bị cáo gói Heroin giá 50.000đ vào ngày 30/5/2018 tại bản Thôm, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Xét do bị cáo không cung cấp được tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của đối tượng nên cơ quan Điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với lời khai của bị cáo về người thanh niên tên C cho bị cáo ngủ nhờ một đêm. Do bị cáo mới quen Cường nên không nhớ rõ nhà Cường ở đâu, nên cơ quan Điều tra cũng không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 – điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 – Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt bị cáo 15 ( Mười lăm ) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173 – điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 - Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H phạm tội: Trộm cắp tài sản và xử phạt bị cáo 09 ( Chín ) tháng tù.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Buộc bị cáo Bùi Văn H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội (Tàng trữ trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản ) là 24 ( Hai mươi tư ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 31/5/2018 (Ngày bắt giữ bị cáo ).
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo biện pháp thi hành án phạt tù.
2. Xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 - khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 mảnh nilon màu trắng;
+ 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu;
+ 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bóc dở bên trong có chứa 03 điều thuốc lá.
- Tuyên tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu FPT màu đen, số IMEL 1: 98009003222117; số IMEL 2: 980029003257469, đã qua sử dụng cũ, để đảm bảo thi hành bản án về án phí.
3. Án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Buộc bị cáo Bùi Văn Hòa nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ).
4. Quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Báo cho bị cáo Bùi Văn H và bị hại ông Lường Văn T biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - Viên kiểm sát ( 02 bản ); - Sở tư pháp; - Công an huyện; - THA hình sự - THA dân sự huyện; - Trại giam; - Lưu hồ sơ; - Lưu VPTA ( 01 bản ). | T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kỳ Việt |