- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về việc xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Vũ Quỳnh A:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Thông tư số 04/2020/TT-BTP Quy định chi tiết thi hành một số…; Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP Quy định chi tiết thi hành một số…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1475/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05/08/2022 V/v: Tranh chấp về xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngoan - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 08 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 1236/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022, về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 291/2022/QĐXX – ST ngày 12/7/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Vũ Quỳnh A (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: 108/65A LVL, phường H, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Châu Đại T (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: 354/15E PVT, Phường M, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam bộ công an T16; Địa chỉ: Xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/06/2022, các bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn bà Huỳnh Vũ Quỳnh A trình bày:
Vào đầu năm 2018, bà và ông Nguyễn Châu Đại T quen biết nhau và phát sinh tình cảm nên đã sống chung với nhau như vợ chồng. Đến cuối năm 2021, Bà và ông T định đăng ký kết hôn và tổ chức đám cưới thì ông Trang bị Cục cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy bộ công an bắt giam vào ngày 28/12/2021 về hành vi liên quan đến mua bán ma túy.
Trong quá trình chung sống với ông T bà đã mang thai và sinh một bé gái vào ngày 08/03/2022 theo Giấy chứng sinh số 123 quyển số 321 cấp ngày 08/03/2022. Căn cứ vào kết quả giám định AND số 2246PG/DNA ngày 20/05/2022 kết luận: Nguyễn Châu Đại T có quan hệ huyết thống bố -con với người có tên dự kiến Nguyễn Châu Quỳnh A1, độ tin cậy >99,9999%. Do đó bà khởi kiện đề nghị Tòa án xác định ông Nguyễn Châu Đại T là cha đẻ của con gái bà là bé gái sinh ngày 08/03/2022 có tên dự kiến Nguyễn Châu Quỳnh A1 để bà đi làm Giấy khai sinh cho con.
Theo Biên bản lấy lời khai ngày 12/07/2022, Biên bản công khai chứng cứ Bị đơn ông Nguyễn Châu Đại T trình bày:
Ông và bà Huỳnh Vũ Quỳnh A quen biết nhau vào tháng 4 năm 2018 và sống chung với nhau như vợ chồng từ tháng 05 năm 2021. Ông và bà T có đi đăng ký kết hôn tại chính quyền ở địa phương nhưng do ông vướng lý lịch nên không làm được. Khi bà A mang thai ông có biết, nhưng đến ngày 28/12/2021 thì ông bị Cục cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy bộ công an bắt giam. Đến ngày 20/05/2022, ông được biết bà A sinh con gái với ông thông qua Giám định AND.
Nay bà A yêu cầu Tòa án xác định ông là cha của bé gái sinh ngày 08/03/2022 có tên dự kiến là Nguyễn Châu Quỳnh A1 theo Giấy chứng sinh số 123 quyển số 321 cấp ngày 08/03/2022 ông cũng đồng ý và đề nghị Tòa án chấp nhận.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa sơ thẩm nhận xét:
- Về tố tụng:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định của pháp luật về tố tụng, Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn tống đạt thông bán thụ lý theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Người tham gia tố tụng:
+ Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 69, 71, 72 88 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 14, Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/NĐ-CP ngày 15/11/2015 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xác định ông Nguyễn Châu Đại T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983, là cha đẻ của người có tên dự kiến là Nguyễn Châu Quỳnh A1, theo Giấy chứng sinh số 123 quyển số 321 cấp ngày 08/03/2022 của Bệnh viện quân y 7A.
Về án phí: Ông Nguyễn Châu Đại T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh nhận định:
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa bà Huỳnh Vũ Quỳnh A và ông Nguyễn Châu Đại T là tranh chấp về việc xác định cha cho con. Bị đơn có nơi cư trú tại quận Bình Thạnh. Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh.
2. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn Huỳnh Vũ Quỳnh A và ông Nguyễn Châu Đại T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T và bà A.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Qua biên bản công khai tài liệu chứng cứ cả nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận các tài liệu nguyên đơn nộp kèm khi khởi kiện là đầy đủ, không yêu cầu Tòa án thu thập thêm và triệu tập thêm ai vào tham gia tố tụng. Do đó Tòa án giải quyết vụ kiện dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ kiện.
3.Về yêu cầu của các đương sự:
Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Ông Nguyễn Châu Đại T và bà Huỳnh Vũ Quỳnh A có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2018, đến này 08/03/2022 bà A sinh một bé gái theo Giấy chứng sinh số 123 quyển số 321 cấp ngày 08/03/2022. Do đó, bà yêu cầu Tòa án xác định Nguyễn Châu Đại T là cha đẻ của con gái bà để bà đi làm giấy khai sinh cho con.
Hội đồng xét xử xét:
Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào kết quả giám định AND số 2246PG/DNA ngày 20/05/2022 kết luận: Nguyễn Châu Đại T có quan hệ huyết thống bố -con với người có tên dự kiến Nguyễn Châu Quỳnh A1, độ tin cậy >99,9999% có đủ cơ sở để xác định ông Nguyễn Châu Đại T là cha đẻ của trẻ có tên dự kiến là Nguyễn Châu Quỳnh A1, sinh ngày 08/03/2022 theo Giấy chứng sinh số 123 quyển số 321 cấp ngày 08/03/2022 là phù hợp với quy định tại các Điều 88 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 14, Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/NĐ-CP ngày 15/11/2015. Đồng thời điều này cũng phù hợp với lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
3.Về án phí:
Về án phí: Ông Nguyễn Châu Đại T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Nguyên đơn Bà Huỳnh Vũ Quỳnh A thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 69, 71, 72 và Điều 88 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 14, Điều 16 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/NĐ-CP ngày 15/11/2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Vũ Quỳnh A:
Tuyên bố ông Nguyễn Châu Đại T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx; Hộ khẩu thường trú: 354/15E Phan Văn Trị, Phường 11, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh là cha đẻ của trẻ có tên dự kiến là Nguyễn Châu Quỳnh A1, sinh ngày 08/03/2022 theo Giấy chứng sinh số 123 quyển số 321 do Bệnh viện quân y 7A cấp ngày 08/03/2022.
Ông Nguyễn Châu Đại T và bà Huỳnh Vũ Quỳnh A có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục khai sinh cho con theo quy định pháp luật.
2. Về án phí:
Về án phí: Ông Nguyễn Châu Đại T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Nguyên đơn Bà Huỳnh Vũ Quỳnh A thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
3. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: -TAND TP. HCM; -VKSND quận Bình Thạnh; -THADS quận Bình Thạnh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Thanh Thủy |