vanban.org

Bản án 147/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Huỳnh Văn P. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N- Huỳnh Văn P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6-CẦN THƠ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 09-7-2026
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Kiệt

Ông Sơn Thanh Bình

- Thư ký phiên Tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân khu vực 6-Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2026/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 4 năm 2026 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 262/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, Sinh ngày: 01/01/1976; CCCD: xxxxxxxxxxxx;

Địa chỉ: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn P, sinh năm: 1973; CMND: xxxxxxxxx; Địa

chỉ: ấp A, xã A, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 12 năm 2025 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Huỳnh Văn P chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 11 năm 2021, tại Ủy ban nhân dân xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay Ủy ban nhân dân xã An Ninh, thành phố Cần Thơ). Hôn nhân của anh chị được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, anh chị tìm hiểu nhau một thời gian thì đi đến hôn nhân. Thời gian đầu khi sống chung với nhau thì vợ chồng anh chị sống rất vui vẻ, hạnh phúc, nhưng thời gian về sau giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng anh chị tính tình không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Khi xảy ra mâu thuẫn anh chị đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, mâu thuẫn vợ chồng tiếp tục xảy ra nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Chị Nguyễn Thị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nyêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Huỳnh Văn P.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị N tự khai trong thời gian chung sống với anh Huỳnh Văn P thì anh chị có 04 (bốn) người con chung là Huỳnh Thị T (nữ, sinh ngày 16/7/1994), Huỳnh Thị Thuý L (nữ, sinh ngày 14/9/1996), Huỳnh Thanh T (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và Huỳnh Ngọc H (nữ, sinh ngày 10/10/2011). Sau khi ly hôn chị Nyêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thanh T (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và Huỳnh Ngọc H (nữ, sinh ngày 10/10/2011) cho đến khi cháu cháu T, cháu Hđủ 18 (mười tám) tuổi vì hiện nay cháu T, cháu H đang sống cùng với chị Ntại ấp An Tập, xã An Ninh, thành phố Cần Thơ. Đối với Huỳnh Thị T (nữ, sinh ngày 16/7/1994), Huỳnh Thị Thuý L (nữ, sinh ngày 14/9/1996) hiện nay đã đủ 18 (tuổi) có công việc làm ổn định, đủ điều kiện nuôi bản thân nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh Huỳnh Văn P cấp dưỡng nuôi con chung tên Huỳnh Thanh T (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và Huỳnh Ngọc H (nữ, sinh ngày 10/10/2011) vì hiện nay chị Ncó khả năng, điều kiện nuôi dưỡng các con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị N tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn anh Huỳnh Văn P: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N tại Thông báo thụ lý vụ án số: 112/TB-TLVA, ngày 06 tháng 4 năm 2026 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Huỳnh Văn P, cũng như đã triệu tập hợp lệ cho anh Huỳnh Văn P đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh Huỳnh Văn P đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó, Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Huỳnh Văn P nhưng anh Huỳnh Văn P không gửi văn bản ghi ý kiến của anh Huỳnh Văn P đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Nguyễn Thị N.

Tại biên bản ghi ý kiến nguyện vọng của con chưa thành niên lập ngày 22 tháng 4 năm 2026, Huỳnh Thanh T (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và Huỳnh Ngọc H (nữ, sinh ngày 10/10/2011) trình bày: Hiện nay các cháu T, Hiếu đang sống cùng với chị Ncuộc sống của các cháu hiện nay ổn định. Nếu cha mẹ các cháu ly hôn thì các cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với mẹ ruột là chị Nguyễn Thị N.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Cần Thơ trình bày ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, về việc chị Nyêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn P, đồng thời chị Nguyễn Thị N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thanh T (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và Huỳnh Ngọc H (nữ, sinh ngày 10/10/2011) cho đến khi cháu T, Hiếu đủ 18 (mười tám) tuổi và không yêu cầu anh Huỳnh Văn P cấp dưỡng nuôi con. Còn về tài sản chung, nợ chung chị Ntự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N vắng mặt (có đơn xét xử vắng mặt); Bị đơn anh Huỳnh Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai lần đều vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào điểm a,b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị và anh Huỳnh Văn P. Bị đơn anh Huỳnh Văn P có nơi cư trú ấp An Tập, xã An Ninh, thành phố Cần Thơ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Toà án nhân dân khu vực 6-Cần Thơ thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Huỳnh Văn P xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đủ điều kiện kết hôn. Do đó, việc chị Nguyễn Thị N và anh Huỳnh Văn P tiến đến hôn nhân và được Uỷ ban nhân dân xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay Uỷ ban nhân dân xã An Ninh, thành phố Cần Thơ) cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03 tháng 11 năm 2011 là hoàn toàn đúng theo quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.

Trong quá trình chung sống theo chị Ntrình bày do vợ chồng anh chị tính tình không phù hợp, bất đồng về quan điểm sống và không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân, anh chị thường xuyên cãi vã. Chị Nvà anh Phường đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, khi xảy ra mâu thuẫn chị Nvà anh Phường đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được và vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay chị Nvà anh Phường không còn chung sống với nhau như vợ chồng, anh chị đều có công việc riêng và có cuộc sống riêng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Nvẫn cương quyết xin ly hôn với anh Phường.

Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Đối chiếu với quan hệ hôn nhân giữa chị Nvà anh Phường thì hiện nay, anh chị đã sống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng thực trạng mâu thuẫn giữa chị Nvà anh Phường đã đến mức trầm trọng, hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N.

Về con chung: Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Huỳnh Thanh T (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và Huỳnh Ngọc H (nữ, sinh ngày 10/10/2011) cho đến khi cháu T, cháu Hiếu đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Nhận thấy, từ khi chị Nvà anh Phường sống ly thân cho đến nay thì khi cháu T, cháu Hiếu đều do chị Ntrực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng về tâm lý phát triển bình thường, cuộc sống ổn định. Đồng thời, tại biên bản ghi ý kiến khi cháu Huỳnh Thanh T và Huỳnh Ngọc H thì các cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ ruột là chị Nguyễn Thị N.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu Huỳnh Thanh T và Huỳnh Ngọc H nên việc giao cháu T, cháu Hiếu cho chị Ntrực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Huỳnh Thanh T và Huỳnh Ngọc H cho chị Ntiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu T, Hiếu đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Phường được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Phường thực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đối với cháu Huỳnh Thị T (nữ, sinh ngày 16/7/1994), Huỳnh Thị Thuý L (nữ, sinh ngày 14/9/1996) hiện nay đã đủ 18 (tuổi) có công việc làm ổn định, đủ điều kiện nuôi bản thân nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh Huỳnh Văn P là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị N cho rằng hiện nay chị có công việc làm ổn định, thu nhập hằng tháng của chị đủ khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng con nên chị Ntự nguyện không yêu cầu anh Phường cấp dưỡng nuôi con chung tên chung Huỳnh Thanh T (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và Huỳnh Ngọc H (nữ, sinh ngày 10/10/2011). Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị N tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a,b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 238, Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Huỳnh Văn P.

2. Về con chung:

2.1 Giao con chung tên Huỳnh Thanh T (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và Huỳnh Ngọc H (nữ, sinh ngày 10/10/2011) cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu tên Huỳnh Thanh T (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và Huỳnh Ngọc H (nữ, sinh ngày 10/10/2011) đủ 18 (mười tám) tuổi.

2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị N tự khai có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu Huỳnh Thanh T (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và Huỳnh Ngọc H (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và tự nguyện không yêu cầu anh Huỳnh Văn P cấp dưỡng nuôi cháu cháu T, cháu Hiếu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với các con chung tên Huỳnh Thị T (nữ, sinh ngày 16/7/1994), Huỳnh Thị Thuý L (nữ, sinh ngày 14/9/1996), hiện nay các con chung đều đủ 18 (mười tám) tuổi có công việc làm ổn định, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2.3 Sau khi ly hôn, anh Huỳnh Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung tên Huỳnh Thanh T (nữ, sinh ngày 10/10/2011) và Huỳnh Ngọc H (nữ, sinh ngày 10/10/2011), chị Nguyễn Thị N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Huỳnh Văn P không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị N tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6, Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005380 ngày 25 tháng 3 năm 2026, chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

6. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ