vanban.org

Bản án 147/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Minh K. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thạch Nhất K1, sinh ngày 16/5/2016 cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Minh K chưa cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Nguyễn Thị L chưa có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân Nguyễn Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐỒNG THÁP
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2026/HNGĐ - ST
Ngày 29-6-2026
V/v tranh chấp ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Kim Loan

Ông Đỗ Thanh Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Liễu Hạnh là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Duy Ngọc Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 180/2026/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2026 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1988 (Có mặt)

Trú tại: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp (Trước đây là ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh K, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Trú tại: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp (Trước đây là ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 05 tháng 02 năm 2026 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Minh K tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Hôn nhân do tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, không thể hòa hợp. Anh chị đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Nay xét thấy hạnh phúc không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị L yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh K. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thạch Nhất K1, sinh ngày 16/5/2016. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Nguyễn Thạch Nhất K1. Chị L chưa yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị L khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Minh K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh K không cung cấp cho Tòa án ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị L.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Minh K. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thạch Nhất K1 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K chưa cấp dưỡng nuôi con vì chị L chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Minh K là quan hệ tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là anh Nguyễn Minh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh K theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Minh K tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp), số đăng ký 52, quyển số 01, đăng ký ngày 18 tháng 5 năm 2015 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị L và anh K chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Minh K đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị L yêu cầu được ly hôn với anh K là có cơ sở, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thạch Nhất K1, sinh ngày 16/5/2016. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Nguyễn Thạch Nhất K1. Chị L chưa yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, Nguyễn Thạch Nhất K1 hiện đang do chị L chăm sóc nuôi dưỡng và Nhất K1 có nguyện vọng được sống với chị L. Do đó, để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của Nhất K1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L, để chị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Nguyễn Thạch Nhất K1. Anh Nguyễn Minh K chưa cấp dưỡng nuôi con chung vì chị L chưa có yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Minh K.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thạch Nhất K1, sinh ngày 16/5/2016 cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Minh K chưa cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Nguyễn Thị L chưa có yêu cầu.

Anh Nguyễn Minh K có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003433 ngày 10/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp nên chị Nguyễn Thị L đã nộp xong án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ