vanban.org

Bản án 147/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nguyên nhân khác

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Bùi Văn N1. Về con chung: Buộc ông Bùi Văn N1 giao người con chung tên Bùi Nguyễn Trúc A, sinh ngày 09/4/2019 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị N không yêu cầu ông Bùi Văn N1 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nguyên nhân khác — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N - Bùi Văn Ng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 147/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 07/4/2026
Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Thị Thúy Lan;

2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 929/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/3/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2026/QĐST – HNGĐ ngày 20/3/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1993; nơi thường trú: Thôn T, xã K, tỉnh Thanh Hóa; nơi tạm trú: Tổ H đường V, khu phố Đ, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Bùi Văn N1, sinh năm 1987; nơi thường trú: Thôn T, xã K, tỉnh Thanh Hóa; nơi tạm trú: Tổ H đường V, khu phố Đ, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Bùi Văn N2 có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 03 năm thì tự nguyện về sống chung với nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã T, tỉnh Thanh Hóa) theo giấy chứng nhận kết hôn số 56/2015, quyển số 02/2014 cấp ngày 22/12/2015. Cuộc sống hạnh phúc được khoảng thời gian đầu, đến năm 2021 phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên hay cãi vả nhau nên cuộc sống không hạnh phúc. Ông N1 thường xuyên ăn nhậu, không phụ giúp bà trong vấn đề chăm sóc con cái. Mặc dù vợ chồng sống chung nhà nhưng ly thân về mặt tình cảm từ năm 2023 cho đến nay, không sinh hoạt vợ chồng. Bà đã cho ông N1 nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng ông N1 không thay đổi được. Vì vậy, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà N được ly hôn ông Bùi Văn N1.

Con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên là Bùi Nguyễn Trúc A, sinh ngày 09/4/2019. Hiện nay, con đang sống chung với vợ chồng bà. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông N1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn ông Bùi Văn N1:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án và yêu cầu ông Bùi Văn N1 có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà Nguyễn Thị N nhưng ông N1 không có ý kiến gì. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Bùi Văn N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 27/01/2026 nhưng ông N1 vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà N.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn là ông Bùi Văn N1 có địa chỉ tại tổ H đường V, khu phố Đ, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Bùi Văn N1 là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa theo giấy chứng nhận kết hôn số 56/2015, quyển số 02/2014 cấp ngày 22/12/2015 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Bà Nguyễn Thị N xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2021 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông N1 thường xuyên ăn nhậu, không phụ giúp bà trong vấn đề chăm sóc con. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên cãi vã, khiến cuộc sống trở nên ngột ngạt, căng thẳng, gây mệt mỏi cho nhau. Tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không chia sẻ, đồng cảm với nhau các vấn đề trong cuộc sống. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà Nguyễn Thị N yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Văn N1. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và triệu tập ông Bùi Văn N1 đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông N1 không có mặt. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của ông Bùi Văn N1 và bà Nguyễn Thị N đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.

Việc ông Bùi Văn N1 bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị N cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Nguyễn Thị N và ông Bùi Văn N1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà Nguyễn Thị N.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 người con chung tên Bùi Nguyễn Trúc A, sinh ngày 09/4/2019. Bà Nguyễn Thị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông N1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Xét thấy việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Quá trình tố tụng, ông Bùi Văn N1 vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn được nuôi con. Trong thời gian trước đây và hiện nay con chung vẫn do bà Nguyễn Thị N nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có cơ sở để chấp nhận nguyện vọng của bà Nguyễn Thị N là được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Bùi Nguyễn Trúc A, sinh ngày 09/4/2019.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị N không yêu cầu ông Bùi Văn N1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Bùi Văn N1.

Về con chung: Buộc ông Bùi Văn N1 giao người con chung tên Bùi Nguyễn Trúc A, sinh ngày 09/4/2019 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị N không yêu cầu ông Bùi Văn N1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, bà Nguyễn Thị N và ông Bùi Văn N1 có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Trường hợp ông Bùi Văn N1 lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc bà Nguyễn Thị N nuôi con thì bà N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông N1 theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0049534 ngày 15/12/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ.

3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ