vanban.org

Bản án 147/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H đối với ông Lê Viết K về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Lê Viết K (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36 Quyển số 01/2012 đăng ký ngày 13/6/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh). 2. Về con chung: Ông Lê Viết K giao cho bà Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Viết K1, sinh ngày 19/8/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Lê Thị H - ông Lê Viết K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H đối với ông Lê Viết K về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 147/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-9-2025
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hải Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Cường;

2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 55/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1987; HKTT: Tổ E, Khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: Số B đường B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Lê Viết K, sinh năm 1988; HKTT: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa nay là xã S, tỉnh Thanh Hóa; Địa chỉ tạm trú: Phòng số 6 – Nhà trọ Nguyễn Thanh H1 – Số C, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn bà H vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông K vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 29/5/2025, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

Bà H và ông Lê Viết K tự nguyện tìm hiểu quen biết tháng 6/2011 và đi đến chung sống vào năm 2012, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận kết hôn số 36 quyển số 01/2012, ngày 13/6/2012.

Trong quá trình chung sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong mọi quyết định liên quan đến cuộc sống gia đình, từ việc nuôi dạy con cái đến quản lý tài chính, sinh hoạt hàng ngày. Mâu thuẫn kéo dài và không thể hòa giải được, dẫn đến đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Hiện bà H và ông K đã sống ly thân nhau từ năm 2022 cho đến nay. Hiện nay, bà H thì đang sinh sống tại số B đường B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; Ông Lê Viết K sinh sống tại Nhà trọ N khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể quay về sống đoàn tụ hạnh phúc với nhau được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Lê Viết K.

Về con chung: Bà H và ông Lê Viết K có 02 con chung tên Lê Khải P, sinh ngày 23/12/2012 và Lê Viết K1, sinh ngày 19/8/2016. Sau khi ly hôn, bà H nhận trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Viết K1, sinh ngày 19/8/2016. Giao cho ông Lê Viết K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Khải P, sinh ngày 23/12/2012. Hai bên không bên nào phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Bà H không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Ngoài ra, bà H không có yêu cầu khác, không cung cấp chứng cứ gì thêm.

* Đối với bị đơn ông Lê Viết K: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ để yêu cầu ông Lê Viết K cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 13/8/2025 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên tòa vào ngày 04/9/2025 và ngày 25/9/2025 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án. Quá trình xác minh, bị đơn ông K có sinh sống tại Phòng số 6 – Nhà trọ Nguyễn Thanh H1 – Số C, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà H và ông K do Tòa án tiến hành ngày 15/9/2025, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau:

Trước khi khởi kiện tại Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh, ông K và bà H không ai yêu cầu tổ chức hoà giải cơ sở. Quá trình sống chung thì vấn đề mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung như thế nào thì địa phương không rõ. Đề nghị Toà án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn không chấp hành pháp luật tố tụng. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung về thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông K là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn bà Lê Thị H khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Lê Viết K, sinh năm 1988 có nơi cư trú tại Phòng số 6 – Nhà trọ N; Địa chỉ: Số C, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh; Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

[1.2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị H vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Lê Viết K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 04/9/2025 và ngày 25/9/2025 nhưng đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lê Thị H và ông Lê Viết K chung sống với nhau từ năm 2012, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số 01/2012 ngày 13/6/2012. Như vậy, hôn nhân giữa bà H và ông K là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

Bà H trình bày sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong mọi quyết định liên quan đến cuộc sống gia đình, từ việc nuôi dạy con cái đến quản lý tài chính, sinh hoạt hàng ngày. Mâu thuẫn kéo dài và không thể hòa giải được, dẫn đến đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Hiện bà H và ông K đã sống ly thân nhau từ năm 2022 cho đến nay. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể quay về sống đoàn tụ hạnh phúc với nhau được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Lê Viết K.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã tiến hành triệu tập nguyên đơn, bị đơn đến làm việc, hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nguyên đơn kiên quyết xin ly hôn và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn không có mặt theo triệu tập của Tòa án.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích, vợ chồng phải quan tâm, quý trọng, thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Từ việc nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn không tham gia hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân đã thể hiện bà H và ông K không có thiện chí hòa giải đoàn tụ với nhau; hai bên cũng không đưa ra được giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng để xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân của bà H và ông K đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà H yêu cầu ly hôn với ông K là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông K có 02 con chung tên Lê Khải P, sinh ngày 23/12/2012 và Lê Viết K1, sinh ngày 19/8/2016. Sau khi ly hôn, bà H nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lê Viết K1 và giao cho ông Lê Viết K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lê Khải P.

Việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt của con chưa thành niên. Trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản có nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn về vấn đề này cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến gì. Tòa án cũng đã có Thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ số 75/TB-TA ngày 21/7/2025 yêu cầu bà H và ông K cung cấp tài liệu, chứng cứ về tình trạng hôn nhân của vợ chồng, nguyên nhân mâu thuẫn, về con chung, nghề nghiệp, nơi ở, nơi làm việc, thu nhập của mỗi người. Tuy nhiên, các đương sự không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án.

Xét thấy, theo bản tự khai cháu Lê Viết K1 có nguyện vọng được sống cùng mẹ là bà Lê Thị H và cháu Lê Khải P có nguyện vọng được sống cùng cha là ông Lê Viết K. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao cháu Lê Viết K1 cho bà H và cháu Lê Khải P cho ông K trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

[4] Về án phí: Nguyên đơn bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 40, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H đối với ông Lê Viết K về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Lê Viết K (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36 Quyển số 01/2012 đăng ký ngày 13/6/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh).

1.2. Về con chung: Ông Lê Viết K giao cho bà Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Viết K1, sinh ngày 19/8/2016. Bà Lê Thị H giao cho ông Lê Viết K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Khải P, sinh ngày 23/12/2012. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Viết K và bà Lê Thị H về việc không yêu cầu bên còn lại thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Lê Thị H và ông Lê Viết K đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm mà bà H đã nộp theo biên lai thu số 0003333 ngày 14 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố H.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ