vanban.org

Bản án 147/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về con chung: Giao cháu Trần Quốc D, sinh ngày 15/01/2011 cho chị Ngô Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời anh Trần Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LONG THÀNHĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 9 - 2024
V/v: “ Tranh chấp ly hôn ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 294/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Kim T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số nhà E, Tổ B, Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Trần Văn T1, sinh năm 1977.

Địa chỉ: B, Tổ E, Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T, anh T1 vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Ngô Kim T trình bày: Chị và anh Trần Văn T1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào năm 2008. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, tuy nhiên sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, hai bên có những mâu thuẫn, bất đồng không thể giải quyết được. Anh chị đã cho cơ hội và hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được. Anh chị đã ly thân từ năm 2013 đến nay là 11 năm, anh T1 thường xuyên say xỉn và đến nhà chị chửi bới, quậy phá. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T1, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T1.

Về con chung: Có 02 con chung là Cháu Trần Ngô Thị Đoan T2, sinh ngày 08/7/2005 và Trần Quốc D, sinh ngày 15/01/2011.

Sau ly hôn chị T yêu cầu trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Quốc D. Không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Cháu Trần Ngô Thị Đoan T2 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/7/2024 bị đơn anh Trần Văn T1 trình bày: Anh và chị Ngô Kim T có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào năm 2008. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và cả hai vợ chồng đã ly thân được 11 năm nay. Nay chị T khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ly hôn anh T1 đồng ý.

Về con chung: Có 02 con chung là Cháu Trần Ngô Thị Đoan T2, sinh ngày 08/7/2005 và Trần Quốc D, sinh ngày 15/01/2011.

Sau ly hôn anh đồng ý để chị T trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Quốc D và anh không cấp dưỡng nuôi con.

Cháu Trần Ngô Thị Đoan T2 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có. Anh T1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Kim T.

Về con chung: Giao cháu Trần Quốc D cho chị Ngô Kim T trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời anh Trần Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Cháu Trần Ngô Thị Đoan T2 đã trưởng thành, có khả năng lao động, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Ngô Kim T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Văn T1. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp ly hôn”.

Anh Trần Văn T1 là bị đơn trong vụ án hiện đang cư trú tại xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Kim T và anh Trần Văn T1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, L, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 80, Quyển số 0I/04 cấp ngày 20/9/2004 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Chị T yêu cầu xin ly hôn anh T1 vì mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết, hàn gắn được. Anh T1 cùng đồng ý ly hôn với chị T.

Xét thấy, căn cứ vào lời khai và tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện chị T và anh T1 đều thừa nhận đã ly thân với nhau được 11 năm. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài nhưng không bàn bạc đoàn tụ được, chị T xin ly hôn, anh T1 cũng đồng ý thuận tình, chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, căn cứ Điều 89 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000 và Điều 56 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014, xử cho chị Ngô Kim T được ly hôn anh Trần Văn T1.

Về con chung: Có 02 con chung là Cháu Trần Ngô Thị Đoan T2, sinh ngày 08/7/2005 và Trần Quốc D, sinh ngày 15/01/2011.

Chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Quốc D, anh T1 đồng ý. Cháu Trần Quốc D đã trên 07 tuổi, qua tham khảo ý kiến của cháu D có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy giao cháu D cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật.

Chị T nuôi con không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

Cháu Trần Ngô Thị Đoan T2 đã trưởng thành, có khả năng lao động các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về Tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Nợ chung : Các đương sự khai không có nên không xét.

Về án phí: Chị Ngô Kim T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84, 131 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử : 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Kim T, xử cho chị T được ly hôn anh Trần Văn T1.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Quốc D, sinh ngày 15/01/2011 cho chị Ngô Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tạm thời anh Trần Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Văn T1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 84, 110, 118 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014. 3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Ngô Kim T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0015559 ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị T đã nộp đủ án phí.

5. Chị Ngô Kim T và anh Trần Văn T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ