vanban.org

Bản án 147/2024/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Ngọc B.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị Ngọc B được ly hôn với anh Lưu Minh C. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mẫu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Ngọc B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 147/2024/HN-ST
Ngày: 21/6/2024.
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trương Ngươn

Bà Nguyễn Thị Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Xin ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST-HN ngày 05 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự: + Nguyên đơn: Lê Thị Ngọc L, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp Khương Thọ, xã Đồng Sơn, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang + Bị đơn: Đỗ Kiến T, sinh năm 1985. Địa chỉ: ấp Khương Thọ, xã Đồng Sơn, huyện Gò Công Tây, Tiền Giang.

(Chị L xin vắng mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị L trình bày:

Chị và anh T do quen biết tiến đến hôn nhân có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn được Uỷ ban nhân dân xã Đồng Sơn cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/12/2009. Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân do chúng tôi bất đồng quan điểm, hay cải vã nhau, anh T không lo làm ăn, lo ăn chơi, cà bạc, rượu chè, hiện nay anh chị đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân, anh T không rước hay tạo điều kiện để hàn gắn. Nay, chị nhận thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Anh chị có 02 đứa con chung tên Đỗ Khai T, sinh ngày 12/5/2010 và Đỗ Duy T, sinh ngày 09/7/2013. Hiện cháu T đang sống với chị, cháu T đang sống với anh T. Ly hôn, chị yêu cầu nuôi dưỡng cháu T, giao cháu T cho anh T nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có.

* Bị đơn anh T vắng mặt, mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị L.

* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ kiện: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L với anh T. Giao cháu Đỗ Khai T, sinh ngày 12/5/2010 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Đỗ Duy T, sinh ngày 09/7/2013 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: Chị L, anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Đồng Sơn, huyện Gò Công Tây cấp giấy chứng nhận kết hôn số 144 ngày 18/12/2009 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị L có đơn xin vắng mặt các phiên xét xử của Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H.

Bị đơn anh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Tường.

Về nội dung:

Hội đồng xét xử nhận thấy, mâu thuẫn chị B trình bày là có xảy ra bởi lẽ chị B cho rằng, chị và anh C cưới nhau từ năm 2010 chung sống hạnh phúc được sáu đến bảy tháng thì phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được, anh C không chăm lo cuộc sống gia đình nhưng anh chị không khắc phục để kéo dài làm ảnh hưởng hạnh phúc vợ chồng. Thời gian anh chị ly thân đã lâu từ năm 2018 đến nay, trong thời gian ly thân chị B, anh C không có biện pháp hàn gắn tình cảm, vì vậy khả năng vợ chồng đoàn tụ không thể xảy ra, mục đích hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, Tòa án nhiều lần mời anh C đến hòa giải đoàn tụ nhưng anh không đến, điều này thể hiện anh C không còn thiết tha gì đến tình cảm, hạnh phúc vợ chồng. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị B là có cơ sở cần được chấp nhận phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung và nợ chung: Chị B khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị B phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Ngọc B.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị Ngọc B được ly hôn với anh Lưu Minh C.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị B khai không có.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Chị Trương Thị Ngọc B phải chịu số tiền 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng chị được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai số 0009245 ngày 05/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây. Như vậy, chị B đã nộp xong án phí.

Anh C, chị B kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ