- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị Th - Võ Văn Ng"
- Tòa quyết gì? [1] Công nhận tự nguyên thoả thuận của các đương sự như sau:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 147/2024/DS-ST Ngày 21 – 8 – 2024 (V/v Tranh chấp hụi) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Yên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Tấn Liêm
Ông Trần Hoàng Bé
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2024//QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1977.
Địa chỉ: ấp Kinh Lớn, xã Đông Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Hồ Văn Kệ, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm 8, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Võ Văn Ng, sinh năm 1964 (có mặt).
Bà Tô Thị H, sinh năm 1965 (Vợ ông Ng - vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp Kinh Lớn, xã Đông Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Th nguyên đơn trình bày: Năm 2022 bà Th làm chủ hụi, vợ chồng bà H, ông Ng tham gia hụi viên 04 dây hụi như sau:
1. Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 10/01/2022 âm lịch, dây hụi 1.000.000 đồng, có 30 chân, 1 tháng khui một lần nhằm ngày 10 âm lịch hàng tháng. Vợ chồng bà H, ông Ng tham gia 2 chân, hốt hết 2 chân, đóng hụi chết đến tháng 01/2024 âm lịch thì ngưng cho đến nay. Dây hụi này vợ chồng bà H, ông Ng nợ bà 3 kỳ hụi chết bằng 6.000.000 đồng.
2/ Dây hụi thứ hai: Ngày 15/6/2022 âm lịch bà mở dây hụi 1.000.000 đồng, có 45 chân, 1 tháng khui một lần nhằm ngày 15 âm lịch hàng tháng. Vợ chồng bà H, ông Ng tham gia 1 chân, hốt hết ngày 15/11/2022 âm lịch được số tiền bằng 32.000.000 đồng và đóng hụi chết đến tháng 01/2024 âm lịch thì ngưng cho đến nay. Dây hụi này vợ chồng bà H, ông Ng nợ bà 24 kỳ hụi chết bằng 24.000.000 đồng.
3/ Dây hụi thứ ba: Ngày 20/02/2022 âm lịch bà mở dây hụi 1.000.000 đồng, có 40 chân, 1 tháng khui một lần nhằm ngày 20 âm lịch hàng tháng. Vợ chồng bà H, ông Ng tham gia 2 chân, hốt hết hai chân và đóng hụi chết đến tháng 01/2024 âm lịch thì ngưng cho đến nay. Dây hụi này vợ chồng bà H, ông Ng nợ bà 26 kỳ hụi chết bằng 52.000.000 đồng.
4/ Dây hụi thứ tư: Ngày 30/11/2022 âm lịch bà mở dây hụi 2.000.000 đồng, có 33 chân, 1 tháng khui một lần nhằm ngày 30 âm lịch hàng tháng. Vợ chồng bà H, ông Ng tham gia 2 chân, hốt hết hai chân và đóng hụi chết đến tháng 01/2024 âm lịch thì ngưng cho đến nay. Dây hụi này vợ chồng bà H, ông Ng nợ bà 18 kỳ hụi chết bằng 72.000.000 đồng.
Cộng các dây hụi trên, bà H, ông Ng nợ bà 154.000.000 đồng.
Trước tháng 01/2024 âm lịch bà có đóng hụi chết thay cho vợ chồng ông Ng bà H 21.000.000 đồng.
Cộng chung các khoản nợ trên bà H, ông Ng nợ bà 175.000.000 đồng.
Sau khi hai bên quyết toán ngày 25/01/2024 ông Ng, bà H cam kết thanh toán dần phần nợ trên cho bà hàng tháng 9.000.000 đồng đến khi dứt nợ nhưng không thực hiện.
Nay bà yêu cầu buộc bà H, ông Ng thanh toán cho bà 175.000.000 đồng.
Bà Tô Thị H, ông Võ Văn Ng đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản theo đúng qui trình luật tố tụng dân sự, bà H không có ý kiến trình bày quan điểm giải quyết vụ án. Ông Ng và bà H không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai bà H vắng mặt không lý do.
Theo đơn yêu cầu ngày 17/5/2024 gởi cho Toà, ông Võ Văn Ng trình bày: Ông và bà H là vợ chồng, có tham gia chơi các dây hụi và số lượng các chân hụi, hốt hụi đúng như bà Th trình bày. Hiện nếu tính đến khi mãn hụi thì vợ chồng ông nợ hụi chết bà Th 175.000.000 đồng là đúng. Tuy nhiên, trong các dây hụi trên có ba dây hụi chưa mãn nên chưa phát sinh trách nhiệm thanh toán nợ 175.000.000 đồng, do vậy ông không đồng ý trả nợ hụi 175.000.000 đồng theo yêu cầu của bà Th.
Tại phiên toà, ông Ng cho rằng do hàng tháng không thực hiện thanh toán hụi chết như thoả thuận nên ông thống nhất trả cho bà Th 175.000.000 đồng hụi như bà Th yêu cầu. Hiện tại hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp khó khăn nên yêu cầu Toà án xem xét cho vợ chồng ông thanh toán dần đến khi trả hết nợ.
Đại diện của Nguyên đơn chấp nhận sự tự nguyện của ông Ng thanh toán tiền nợ hụi 175.000.000 đồng theo yêu cầu của bà Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục:
Tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn là “Tranh chấp hụi” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn cư trú tại huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà H tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng đương sự vắng mặt không lý do nên tiến hành xét xử vắng mặt bà H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Theo bà Th thì vợ chồng ông Ng, bà H tham gia chơi hụi của bà nhiều dây, nhiều chân, sau khi hốt hụi đã không đóng hụi chết. bà Th yêu cầu bà H, ông Ng thanh toán tiền nợ hụi 175.000.000 đồng.
Ông Ng nhận, tính đến khi mãn hụi thì vợ chồng ông nợ hụi chết bà Th bằng 175.000.000 đồng. Thực tế trong bốn dây hụi trên có ba dây hụi chưa mãn nên chưa phát sinh trách nhiệm thanh toán nợ 175.000.000 đồng. Nên theo đơn yêu cầu ngày 17/5/2024 gởi cho Toà, ông Ng không đồng ý trả nợ hụi theo yêu cầu của bà Th bằng 175.000.000 đồng là có căn cứ.
Tại phiên toà ông Ng nhận do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên vi phạm nghĩa vụ thanh toán hụi chết hàng tháng cho bà Th như thoả thuận, do vậy ông chấp nhận trả các khoản nợ hụi theo yêu cầu của bà Th bằng 175.000.000 đồng và yêu cầu được thanh toán dần cho bà Th đến khi dứt nợ.
Việc ông Ng đồng ý thanh toán 175.000.000 đồng theo yêu cầu khởi kiện của bà Th như đã nêu trên là tự nguyện, không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội nên chấp nhận.
Ông Ng xác nhận việc chơi hụi phục vụ chung cho kinh tế gia đình với bà H. Bà H đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản theo đúng qui trình luật tố tụng dân sự nhưng không có ý kiến trình bày quan điểm giải quyết vụ án, đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai bà H vắng mặt không lý do nên ngoài việc xử vắng mặt bà H thì còn buộc bà H phải chịu trách nhiệm liên đới thanh toán nợ với ông Ng.
Đối với yêu cầu thanh toán dần cho bà Th khoản tiền 175.000.000 đồng đến khi dứt nợ của ông Ng - Yêu cầu này không thuộc thẩm quyền xử lý của Toà án mà được xét theo trình tự chung do pháp luật thi hành án dân sự qui định nên ông Ng có quyền yêu cầu để được xét ở giai đoạn thi hành án.
Án phí: Bà H, ông Ng thuộc diện cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên
chấp nhận miễn án cho đương sự. Bà Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại tiền dự nộp án phí.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 227, 228, 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 357, 468, 471 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Công nhận tự nguyên thoả thuận của các đương sự như sau:
Ông Võ Văn Ng thanh toán theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th tổng cộng các khoản tiền nợ hụi bằng 175.000.000 đồng.
[2] Buộc bà Tô Thị H có trách nhiệm liên đới với ông Võ Văn Ng thanh toán cho bà Nguyễn Thị Th tiền nợ hụi bằng 175.000.000 đồng như đã nêu tại mục [1] của quyết định này.
Trường hợp ông Ng, bà H chậm trả tiền thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
[3] Án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho ông Ng, bà H. Bà Th không phải chịu án phí, ngày 16/4/2024 bà Th dự nộp án phí khởi kiện 4.375.000 đồng theo lai thu số 0013081 tại Chi cục thi hành án huyện Cái Nước được nhận lại.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm, bà Th, ông Ng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Tấn Liêm
Trần Hoàng Bé
Huỳnh Văn Yên
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - Phòng KTNV&THA; - Lưu: Hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi..........giờ..........phút, ngày 21 tháng 8 năm 2024. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước. - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Yên. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Tấn Liêm Ông Trần Hoàng Bé “Tranh chấp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2024//QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp Kinh Lớn, xã Đông Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Đại diện theo uỷ quyền: Ông Hồ Văn Kệ, sinh năm 1983 (có mặt). Địa chỉ: Khóm 8, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. - Bị đơn: Ông Võ Văn Ng, sinh năm 1963 (có mặt). Bà Tô Thị H, sinh năm 1964 (Vợ ông Ng - vắng mặt). Cùng địa chỉ: ấp Kinh Lớn, xã Đông Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. * Về toàn bộ nội dung giải quyết vụ án: 228, 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 357, 468, 471 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: [1] Công nhận tự nguyên thoả thuận của các đương sự như sau: khoản tiền nợ hụi bằng 175.000.000 đồng. cho bà Nguyễn Thị Th tiền nợ hụi bằng 175.000.000 đồng như đã nêu tại mục [1] của quyết định này. trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. không phải chịu án phí, ngày 16/4/2024 bà Th dự nộp án phí khởi kiện 4.375.000 đồng theo lai thu số 0013081 tại Chi cục thi hành án huyện Cái Nước được nhận lại. hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Nghị án kết thúc vào hồi..........giờ..........phút, cùng ngày. nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Võ Tấn Liêm Trần Hoàng Bé | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Yên CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ thụ lý số: 179/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 227, Ông Võ Văn Ng thanh toán theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Th tổng cộng các [2] Buộc bà Tô Thị H có trách nhiệm liên đới với ông Võ Văn Ng thanh toán Trường hợp ông Ng, bà H chậm trả tiền thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm [3] Án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho ông Ng, bà H. Bà Th Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày Kết quả biểu quyết: 3/3. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Yên |