- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn P- trộm cắp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 158 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 147/2023/HS-ST Ngày 29 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kim Đính
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Viết Cẩm, bà Trần Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc là Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn P, sinh năm 19..., tại tỉnh Đồng Nai;
Nơi đăng ký thường trú: Không; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định;
Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ văn hóa (học vấn), tôn giáo, nghề nghiệp, vợ, con: Không; con ông Vi V – (không rõ năm sinh, đã chết), con bà Nguyễn Thị D – (không rõ năm sinh, đã chết); tiền án: Ngày 08/4/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 31/10/2022 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Ngày 10/6/2021, bị Công an phường Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 2.000.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”, nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 11/6/2021 nhưng chưa nộp phạt;
Nhân thân: Ngày 14/6/2019, bị Công an thành phố Biên Hòa xử phạt 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 27/6/2023, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (bị cáo đang chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
* Bị hại: Bà Trần Thị H, sinh năm 19...; địa chỉ: C, ấp B, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
* Người làm chứng:
Trần Thị Bích T, sinh năm 19...; địa chỉ: Khu phố A, phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Mai Minh P, sinh năm 2000; địa chỉ: Ấp B, xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng còn lại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/4/2022 Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích.
Khoảng 14 giờ ngày 06/02/2023, bị cáo rủ Trần Thị Bích T đi trộm cắp tài sản để có tiền sử dụng. Khoảng 15 giờ 35 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 61C1-28500 chở T đến ấp Bình Lục, xã Tân Bình. Bị cáo dừng xe ngoài cổng, T đi vào chùa lén lút lấy 02 chân đèn bằng đồng và đi ra chỗ bị cáo thì bị bà H P hiện nên T đã để lại 02 chân đèn và lên xe cùng bị cáo chạy xe đến đường Long Phú thuộc ấp B, xã Tân Bình thì bị nhân dân phối hợp Công an bắt giữ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Công an huyện Vĩnh Cửu giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng, tài sản tạm giữ: 01 xe mô tô hiệu Dream màu nâu trắng biển số 61C1-285.00 của bị cáo; 01 điện thoại di động Samsung J6 màu hồng số IMEI 358465090273734 của Trần Thị Bích T; 02 chân đèn bằng đồng màu vàng cao khoảng 40cm đường kính chân đèn khoảng 18cm.
Tại Kết luận định giá tài sản số 14/KL-ĐGTS ngày 09/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Vĩnh Cửu, kết luận: 02 chân đèn bằng đồng cao 40cm đường kính 18cm trị giá 1.500.000 đồng (Bút lục số 22-25).
Xử lý vật chứng tạm giữ: Công an xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu đã trả 02 chân đèn của bà H.
Cáo trạng số 159/CT-VKSVC ngày 16 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội như sau:
Bị cáo có tiền án, tiếp tục lén lút trộm cắp tài sản của bị hại. Lời khai của bị cáo phù hợp tài liệu chứng cứ vụ án, hành vi của bị cáo đã phạm tội trộm cắp tài sản, bị cáo có nhân thân xấu xem thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.
Xét bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù. Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù theo Bản án số 299/2023/HSST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, cần tổng hợp hình phạt các Bản án theo Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Giao trả 01 điện thoại di động Samsung J6 màu hồng số IMEI 358465090273734 của Trần Thị Bích T.
Đối với xe mô tô biển số 61C1-28500, không có dữ liệu tra cứu để xác định chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục xác minh giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với Trần Thị Bích T có hành vi cùng bị cáo trộm cắp tài sản, tuy nhiên T chưa có tiền án tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản, Công an huyện Vĩnh Cửu quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp quy định pháp luật.
* Bị cáo trình bày ý kiến: Nội dung Cáo trạng là đúng sự thật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hoạt động tiến hành tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đến nay, người tham gia tố tụng trong vụ án không có khiếu nại. Hoạt động tiến hành tố tụng của Công an huyện Vĩnh Cửu và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp pháp luật.
Bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án, có thể công bố lời khai của họ để tranh tụng nên không ảnh hưởng hoạt động xét xử. Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của Kiểm sát viên, quyết định xét xử vụ án vắng bị hại, người làm chứng là phù hợp các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa, bị cáo trình bày ý kiến thừa nhận hành vi thực hiện tội phạm, không có ý kiến tranh luận. Ý kiến trình bày của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và ý kiến của bị hại, vật chứng, kết luận định giá tài sản. Các chứng cứ này chứng minh bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo đúng quy định pháp luật.
* Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức để nhận biết hành vi vi phạm pháp luật, do không có nghề nghiệp ổn định nên đã trộm cắp tài sản của bị hại.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm trong xã hội, vụ án xảy ra góp phần làm ảnh hưởng xấu đến tình tình an ninh trật tự xã hội tại địa phương, cần phải áp dụng hình phạt tù tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích trong xã hội.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn nên áp dụng các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo (trong vụ án này bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nhưng có nhân thân xấu, có tiền án tiền sự nên không áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự).
Bị cáo đang phải chấp hành hình phạt tù theo Bản án số 299/2023/HSST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai, Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt các Bản án theo Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với Trần Thị Bích T cùng bị cáo trộm cắp tài sản của bị hại, nhưng T chưa có tiền án tiền sự nên Công an huyện Vĩnh Cửu đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp quy định pháp luật.
. Về xử lý vật chứng và giải quyết trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại Trần Thị Bích T: 01 điện thoại di động Samsung J6 màu hồng, số IMEI 358465090273734.
Đối với xe mô tô biển số 61C1-28500: Không xác định chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã chuyển Công an huyện Vĩnh Cửu giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với vật chứng khác: Cơ quan Công an đã trả lại tài sản của bị hại, bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là phù hợp Điều 158 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về chi phí tố tụng:
Bị cáo là người bị kết án phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
Luận tội của Kiểm sát viên phù hợp chứng cứ vụ án, quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 48, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 158 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt:
Nguyễn Tấn P 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Tổng hợp hình phạt của Bản án số 299/2023/HSST ngày 27/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai kết án đối với bị cáo: 10 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 3 năm 2023.
Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 3 năm 2023.
- Về trách nhiệm dân sự:
Đến nay bị hại không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng:
Trả lại Trần Thị Bích T: 01 điện thoại di động Samsung J6 màu hồng, số IMEI 358465090273734 (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).
- Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về trách nhiệm thi hành án dân sự:
Bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Công an huyện Vĩnh Cửu (2); - VKSND huyện Vĩnh Cửu; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - UBND nơi cư trú của bị cáo {để thay thông báo kết quả xét xử}; - Chicục Thi hành án dân sự huyện VĩnhCửu; - Lưu: Vụ án, lưu trữ cơ quan, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kim Đính |