- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị T-Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số:147/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-9-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền. Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ; 2. Bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hoài Phƣơng - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: ông Trần Trọng An - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 287/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 141/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/9/2023, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: bà Hoàng Thị T, sinh năm 1980; địa chỉ: 3 khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980; địa chỉ: 3 khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Hoàng Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: sau thời gian tìm hiểu, bà Hoàng Thị T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn vào năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Việc kết hôn của bà T và ông H là tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình chấp nhận.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thƣờng xuyên xảy ra cãi vã. Cuộc sống vợ chồng ngày càng ngột ngạt, dẫn đến bà T không còn tình cảm với ông H. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông H.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Phƣơng L, sinh ngày 25/11/2004, Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 10/6/2009 và Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 07/12/2019. Bà Thƣơng yêu c trực tiếp nuôi dƣỡng con chung Nguyễn Hoàng K, không yêu cầu ông H thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng con. Bà T đồng ý giao con chung Nguyễn Hoàng Phúc cho ông H trực tiếp nuôi dƣỡng và bà không thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Cháu Nguyễn Hoàng Phƣơng L đã trƣởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Hoàng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu ông H có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T nhƣng ông H không có ý kiến, đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu ông H tham gia hòa giải vào ngày 24/8/2023 nhƣng ông H vắng mặt không có lý do. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu ông H tham gia phiên tòa vào ngày 11/9/2023, ngày 28/9/2023 nhƣng ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Nhƣ vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông H đƣợc xem xét trên cơ sở chứng cứ do bà T cung cấp.
- Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà T và ông H do Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành ngày 01/8/2023, Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cung cấp thông tin nhƣ sau: bà Hoàng Thị T không phải là thành viên hội phụ nữ phƣờng. Trƣớc khi khởi kiện ly hôn tại Toà án, bà T không có yêu cầu địa phƣơng tổ chức hòa giải cơ sở; Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng T cũng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng nhƣ ngƣời dân phản ánh. Vì vậy, Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng không rõ nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T và ông H, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ đại diện khu phố cũng nhƣ ngƣời dân phản ánh về mâu thuẫn giữa hai ngƣời, do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng ông bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Quá trình tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 11/9/2023 và ngày 28/9/2023 nhƣng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự là đúng với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Hoàng Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã đƣợc triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhƣng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên.
Về quan hệ hôn nhân: bà Hoàng Thị T và ông Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo giấy chứng nhận kết hôn số 149 quyển số 01 ngày 17/11/2003 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Quá trình tố tụng, bà T xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng ngày càng ngột ngạt, dẫn đến bà T không còn tình cảm với ông H. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập ông H đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng ông H không có mặt và cũng không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ quan hệ hôn nhân giữa bà T với ông H đƣợc. Căn cứ vào lời khai của bà T xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T với ông H mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 việc bà Hoàng Thị T yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn H là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Phƣơng L, sinh ngày 25/11/2004, Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 10/6/2009 và Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 07/12/2019. Bà Thƣơng yêu c đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung Nguyễn Hoàng K. Bà T đồng ý giao con chung Nguyễn Hoàng Phúc cho ông H là ngƣời trực tiếp nuôi dƣỡng.
Xét thấy, cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 07/12/2019 hiện nay còn nhỏ. Trong thời gian trƣớc đây và hiện nay, cháu K đƣợc bà T nuôi dƣỡng vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt nên việc giao cháu K cho bà T trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc sau khi ly hôn là ph hợp quy định tại Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đối với cháu P, bà T đồng ý giao cháu P cho ông H Trực tiếp nuôi dƣỡng. Ông H không có ý kiến gì về việc từ chối nhận nuôi con. Căn cứ vào nguyện vọng của cháu P, trƣờng hợp bố mẹ ly hôn thì cháu mong muốn sống cùng với bố. Nguyện vọng này phù hợp với yêu cầu của bà T. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu P cho ông H Trực tiếp nuôi dƣỡng.
Cháu Nguyễn Hoàng Phƣơng L đã trƣởng thành, đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về mức cấp dƣỡng: bà T không yêu cầu ông H thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho cháu K, đây là sự tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bà T không đồng ý cấp dƣỡng nuôi cháu P. Ông H không có yêu cầu bà T phải cấp dƣỡng nuôi con. Bà T và ông H mỗi ngƣời có trách nhiệm trực tiếp nuôi dƣỡng 01 con, do đó, Hội đồng xét xử không xem xét buộc bà T phải cấp dƣỡng nuôi cháu P. Trƣờng hợp ông H yêu cầu bà T phải cấp dƣỡng nuôi con thì có quyền hởi kiện bằng vụ án khác.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: bà Hoàng Thị T không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Hoàng Thị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 19 và các Điều: 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 116 Luật Hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị T về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Hoàng Thị T đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn H (theo giấy chứng nhận kết hôn số 149 quyển số 01 ngày 17/11/2003 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa).
- Về con chung: ông Nguyễn Văn H giao con chung Nguyễn Hoàng Khang, sinh ngày 07/12/2019 cho bà Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dƣỡng.
Bà Hoàng Thị T giao con chung Nguyễn Hoàng Phúc, sinh ngày 10/6/2009 cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dƣỡng.
Cháu Nguyễn Hoàng Phƣơng L đã trƣởng thành, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Hoàng Thị T và ông Nguyễn Văn H không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, bà Hoàng Thị T và ông Nguyễn Văn H có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: bà Hoàng Thị T không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Hoàng Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006660 ngày 10/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - Đƣơng sự; - Lƣu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hiền |