vanban.org

Bản án 147/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Bé C.

Về hôn nhân: Không công nhận giữa chị Bùi Bé C và anh Nguyễn Văn Đ là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chúc H, sinh ngày 04/01/2009 (giới tính: Nữ) và Nguyễn Như H1, sinh ngày 25/6/2011 (giới tính: Nữ) cho anh Nguyễn Văn Đ được quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Bé C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 5 năm 2023
V/v: “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Trường Hận

2/ Ông Nguyễn Công Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội - Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Bé C, sinh năm 1990, trú: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1979, trú: Ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.

(Nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Bùi Bé C trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Đ xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2009, nhưng đến nay chị và anh Đ không có đăng ký kết hôn theo quy định.

Trong cuộc sống bất đồng ý kiến, dẫn đến vợ chồng cãi nhau, làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên và Nguyễn Chúc H, sinh ngày 04/01/2009 (giới tính: Nữ) và Nguyễn Như H1, sinh ngày 25/6/2011 (giới tính: Nữ), hiện cháu do anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, nguyên đơn yêu cầu giải quyết giao 02 cháu cho anh Đ được quyền nuôi dưỡng, không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay, nguyên đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật và bảo lưu ý kiến như trình bày tại đơn khởi kiện.

- Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Đ: Khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Vụ án, được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của 02 cháu, do chị C xác định hiện 02 cháu không có mặt ở địa phương, nhưng chị C yêu cầu giải quyết giao 02 cháu cho anh Đ được quyền nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt, còn nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và bảo lưu ý kiến như tại đơn khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Được xác định là “Tranh chấp về Ly hôn”, đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại Huyện T, nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Do, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cần xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị C và anh Đ chung sống với nhau từ năm 2009, nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (Căn cứ vào xác nhận của Ủy ban nhân dân xã L ngày 03/02/2023 và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã K ngày 06/02/2023), nên hôn nhân đã vi phạm về hình thức. Nay, chị C khởi kiện yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân, do có mâu thuẫn và mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời hôn nhân có vi phạm về hình thức. Từ đó, căn cứ các điều 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, cần chấp nhận khởi kiện của chị Chiều, không công nhận giữa chị C và anh Đ là vợ chồng.

Về con chung: Chị C và anh Đ có 02 người con chung tên Nguyễn Chúc H, sinh ngày 04/01/2009 (giới tính: Nữ) và Nguyễn Như H1, sinh ngày 25/6/2011 (giới tính: Nữ). Chị C xác định, hiện các cháu do anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Tính đến ngày xét xử sở thẩm ngày 16/5/2023, thì cháu Nguyễn Chúc H, sinh ngày 04/01/2009 và Nguyễn Như H1, sinh ngày 25/6/2011 là trên 07 tuổi và dưới 18 tuổi. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, phải xem xét nguyện vọng của các cháu có nguyện vọng sinh sống với ai. Chị C xác định hiện nay các cháu không có mặt ở địa phương, dẫn đến Tòa án không ghi nhận được ý kiến của các cháu. Nhưng chị C xác định khi ly hôn, chị C yêu cầu giải quyết giao 02 cháu cho anh Đ được quyền nuôi dưỡng, còn phía anh Đ vắng mặt nên không có cơ sở để xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử xét vì lợi ích của con chung, đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống nên cần giao 02 cháu cho anh Đ được quyền nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

Về án phí: Buộc chị C phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, đối trừ số tiền 300.000 đồng dự nộp tại biên lai 6134 ngày 07/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (nguyên đơn nộp xong).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Các điều 147, 227, 228, 235, 238, 273, 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 9, 14, 15, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp; Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Bé C.

Về hôn nhân: Không công nhận giữa chị Bùi Bé C và anh Nguyễn Văn Đ là vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chúc H, sinh ngày 04/01/2009 (giới tính: Nữ) và Nguyễn Như H1, sinh ngày 25/6/2011 (giới tính: Nữ) cho anh Nguyễn Văn Đ được quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

“Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật”.

Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

Về án phí: Buộc chị Bùi Bé C phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), đối trừ số tiền 300.000 đồng dự nộp tại biên lai 6134 ngày 07/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (nguyên đơn nộp xong).

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ thi hành án: “Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ