vanban.org

Bản án 147/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 16/06/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Cẩm L được ly hôn với anh Nguyễn Đăng T.

[2] Con chung: Giao các cháu Nguyễn TM sinh ngày 22/3/2014, cháu Nguyễn NY, sinh ngày 20/9/2015 cho chị Đặng Thị Cẩm L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Khánh đủ 18 tuổi trưởng thành. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung khôn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân Lai Tu"
  • Tòa quyết gì? [1] Quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Cẩm L được ly hôn với anh Nguyễn Đăng T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16/06/2023
V/v T/c Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Quốc Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Xuân Thành

Ông Hồ Bá Võ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 16/6/2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 09/2023/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2023/QĐST ngày 26 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Cẩm L, sinh năm 1991. Địa chỉ: Xóm Vân Nam, xã KT, huyện TY, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đăng T, sinh năm 1985; Nơi ĐKHK trước khi xuất cảnh: Xóm Vân Nam, xã KT, huyện TY, tỉnh Nghệ An. Hiện đang làm việc tại: Hàn Quốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và bản T khai chị Đặng Thị Cẩm L trình bày: Chị và anh Nguyễn Đăng T kết hôn với nhau trên cơ sở T nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 07 tháng 6 năm 2013 tại UBND xã KT, huyện TY, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn về sống chung tại xã KT cuộc sống sau hôn nhận hạnh phúc được hai năm. Sau hai năm thì mẫu thuẫn, nguyên nhân do nhiều vấn đề xảy ra cuộc sống hằng ngày. Từ năm 2018 là anh T đi nước ngoài, thời gian đầu thì vẫn liên lạc về, sau đó một năm anh T có người mới là không liên lạc gì cho đến nay. Vậy chị làm đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đăng T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Cháu: Nguyễn TM, sinh ngày 22/3/2014 và cháu Nguyễn NY, sinh ngày 20/9/2015. Hiện tại các cháu đang ở với chị và có nguyện vọng được ở với mẹ. Nay ly hôn nguyện vọng của chị là được chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía anh Nguyễn Đăng T: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Nguyễn Đăng T có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án…cho anh Nguyễn Đăng T thông qua bà Phan Thị T là mẹ của anh Nguyễn Đăng T; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện anh Nguyễn Đăng T vẫn vắng mặt không có lý do. Theo trình bày của bà Phan Thị T thì anh T đang ở nước ngoài, vẫn liên lạc về với bà qua điện thoại, nhưng không nói địa chỉ hiện tại của anh T ở đâu. Bà T đã thông tin cho anh T biết việc chị L làm đơn ly hôn tại Tòa án, anh T cũng đồng ý ly hôn.

Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 24847/QLXNC-P5 ngày 16/11/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an: Anh Nguyễn Đăng T có thông tin xuất nhập cảnh nhiều lần, lần cuối xuất cảnh ngày 10/5/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vu của đường sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Đặng Thị Cẩm L, cho chị L được ly hôn với anh Nguyễn Đăng T; giao con chung của vợ chồng cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Nguyễn Đăng T có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại xã KT, huyện TY, tỉnh Nghệ An; anh T hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi văn bản tố tụng cho bà Phan Thị T (là mẹ đẻ của anh T), đề nghị bà T thông báo cho anh T biết về yêu cầu khởi kiện của chị L. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm thông báo về việc thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định hoãn phiên tòa, tại nơi cư trú của anh T trước khi đi nước ngoài và yêu cầu bà T cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài nhưng bà T không cung cấp được. Tòa án đã niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ hai lần đối với anh T nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Vụ án thuộc trường hợp không thể hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Đặng Thị Cẩm L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[3] Nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản T khai, nhận thấy, chị Đặng Thị Cẩm L và anh Nguyễn Đăng T kết hôn T nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/6/2013. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh sau đó. Khi anh T đi nước ngoài, mâu thuẫn vợ chồng không được hàn gắn, giải quyết. Đến nay anh T không quan tâm đến gia đình, không gửi tiền về chăm sóc gia đình, vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Hai vợ chồng không còn cùng hướng đến xây dựng hạnh phúc. Khi biết chị L xin ly hôn tại Tòa án, anh T cũng đã đồng ý. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Đặng Thị Cẩm L và anh Nguyễn Đăng T không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đặng Thị Cẩm L. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Đặng Thị Cẩm L được ly hôn với anh Nguyễn Đăng T.

[3.2] Về con chung:

Vợ chồng có 02 con chung Cháu: Nguyễn TM, sinh ngày 22/3/2014 và cháu Nguyễn NY, sinh ngày 20/9/2015. Hiện các cháu đang ở với chị L và có nguyện vọng tiếp tục được ở với mẹ. Anh T đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, nên cần giao cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị L và anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[3.3] Tài sản chung, nợ: Chị Đặng Thị Cẩm L chưa yêu cầu giải quyết và anh Nguyễn Đăng T cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[4]. Về án phí: Chị Đặng Thị Cẩm L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Cẩm L.

[1] Quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Cẩm L được ly hôn với anh Nguyễn Đăng T.

[2] Con chung: Giao các cháu Nguyễn TM sinh ngày 22/3/2014, cháu Nguyễn NY, sinh ngày 20/9/2015 cho chị Đặng Thị Cẩm L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Khánh đủ 18 tuổi trưởng thành. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[3] Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Đặng Thị Cẩm L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên L thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012385 ngày 28/12/2022.

[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:

Chị Đặng Thị Cẩm L vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Anh Nguyễn Đăng T đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ