- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 147/2022/HS-ST Ngày 31-10-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đào Văn Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Dung
Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ý Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 120/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:
1. Nguyễn Trọng Q, sinh ngày 22/8/1988, tại Yên Bái; nơi cư trú: Thôn PTị, xã TV, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng Ph và bà Lê Thị Kim T; Vợ: Bùi Thị Tr; con: 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày từ 15/6/2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
2. Bị hại: Ông Lại H T, sinh năm 1963; địa chỉ: Số nhà 218 đường Hùng Vương, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lại Thị Thanh H, sinh năm 1966; địa chỉ: Số nhà 218 đường Hùng Vương, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn Đồng Lạc, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ khoảng tháng 12/2021, Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1988 trú tại Thôn Phú Thị, xã TV, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tìm hiểu trên mạng biết đến các sàn đầu tư tiền ảo với lợi nhuận cao. Do muốn có tiền đầu tư tiền ảo để thu lợi nhuận nên ngày 01/03/2022, Q đã nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối giả làm hợp đồng thuê xe ô tô tự lái sau đó sẽ chiếm đoạt chiếc xe đã thuê đem đi cầm cố để lấy tiền mua tiền ảo. Khoảng 07 giờ cùng ngày, Q điện thoại cho anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1980; trú tại thôn Đồng Lạc, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc nói là sẽ mang ô tô đến nhà anh T và đề nghị cho Q vay số tiền 50.000.000đ. Do Q đã đến vay tiền nhiều lần nên anh T hiểu ý Q là mang tài sản có giá trị đến cầm cố và đồng ý cho Q vay tiền. Sau đó, khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS: 21B1 – 750.65 đến nhà ông Lại H T, sinh năm 1963 trú tại số nhà 218, đường Hùng Vương, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đặt vấn đề thuê 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis màu đen, BKS 88A-119.79 để đi lại, ông T đồng ý. Ông T làm hợp đồng cho Q thuê chiếc xe trên, trong đó thỏa thuận thời gian thuê xe từ ngày 01/3/2022 đến 19h ngày 07/03/2022 với giá thuê xe là 700.000 đồng/ngày. Sau khi viết xong hợp đồng, ông T giao chiếc xe trên cho Q cùng một số giấy tờ, gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự và 01 Giấy biên nhận giữ bản chính đăng ký xe có xác nhận của Ngân hàng VP Bank số 050721, Q để lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS: 21B1 – 750.65 và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Trọng Q để làm tài sản đảm bảo. Sau khi nhận xe, Q điều khiển đến nhà anh Nguyễn Anh T ở thôn Đồng Lạc, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cầm cố xe ô tô đã thuê của ông Lại H T để vay tiền. Tại đây, Q hứa hẹn với anh T chỉ ngồi tại nhà anh T để xử lý công việc môi giới bán đất, nếu trong buổi sáng thu lại được tiền từ môi giới đất sẽ trả lại cho anh T và chuộc xe về. Q viết 01 giấy vay nợ số tiền trên cho anh T, sau đó anh T dùng tài khoản Ngân hàng Vietcombank (số tài khoản 0361000399669) chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng Techcombank của Q (số tài khoản 190336878864014). Sau khi nhận được tiền thì Q ngồi tại nhà anh T để mua tiền ảo. Q dùng điện thoại đi động vào 01 trang web sàn giao dịch tiền điện tử trên mạng và liên hệ đặt mua tiên ảo của Lê Văn Hiếu, sinh năm 1993 trú tại xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Q chuyển 50.000.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng Vietcombank của Hiếu (số 9704366816139640010) và nhận được số lượng tiền ảo tương ứng vào địa chỉ ví của Q lập trên trang mạng. Q đặt hết số tiền ảo vào 01 gói đào tiền ảo trên trang web với lãi suất cao để kiếm lợi nhuận. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Q tiếp tục hỏi vay của anh T số tiền 30.000.000 đồng để mua thêm tiền ảo, anh T đồng ý và chuyển khoản cho Q số tiền trên. Q tiếp tục lên mạng mua tiền ảo của Lê Minh Tường, sinh năm 1996 trú tại xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Q chuyển số tiền 30.000.000 đồng vào số tài khoản Ngân hàng Vietcombank của Tường (số 9704366816098917029) và nhận được số lượng tiền ảo tương ứng vào địa chỉ ví của Q. Q tiếp tục đặt hết số tiền ảo này vào gói đào tiền ảo trên trang web với lãi suất cao để kiếm lợi nhuận. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày Q biết số tiền ảo đã đặt vào gói đào không thể rút được luôn để bán quy đổi ra tiền trả lại cho anh T nên Q đã cầm cố chiếc xe ô tô BKS: 88A – 119.79 cho anh T cùng một số giấy tờ xe và giấy tờ cá nhân kèm theo để bảo đảm rồi nhờ anh T đưa về. Ngày 02/03/2022, Q gọi điện cho ông Lại H T và thông báo đã cầm cố chiếc xe ô tô trên để vay tiền, ông T không đồng ý và yêu cầu Q phải trả xe.
Đến ngày 07/03/2022, sau khi hết thời hạn thuê xe theo hợp đồng đã ký, ông Lại H T liên lạc với Q để yêu cầu Q trả xe nhưng Q vẫn không trả xe nên ngày 09/03/2022, ông T đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.
Ngày 23/03/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên có văn bản Yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Vĩnh Yên định giá đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis màu đen, BKS 88A-119.79. Tại Kết luận định giá số 36/KL-HĐĐG ngày 24/03/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Vĩnh Yên kết luận trị giá của 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis màu đen, BKS 88A-119.79 là: 430.000.000đ (Bốn trăm ba mươi triệu đồng). Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận định giá trên cho Q biết, Q không có khiếu nại hay thắc mắc gì.
Ngày 05/04/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên ra Quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định: Chữ viết, chữ ký trên 01 hợp đồng thuê xe ô tô tự lái ngày 01/03/2022 (niêm phong ký hiệu A1) và 01 Hợp đồng vay tiền kiêm nhận nợ đề ngày 01/03/2022 (niêm phong ký hiệu A2) so với chữ viết, chữ ký trên 01 bản tự khai ngày 04/04/2022 của Nguyễn Trọng Q (ký hiệu M1); 01 Bản cam kết ngày 04/04/2022 của Nguyễn Trọng Q (ký hiệu M2) và 01 Biên bản làm việc về nội dung yêu cầu cung cấp mẫu chữ ký ngày 04/04/2022 đề tên Nguyễn Trọng Q (ký hiệu M3) chữ ký và chữ viết mang tên Nguyễn Trọng Q dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN B” trên mẫu cần giám định A1 và dưới mục “người vay tiền” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trọng Q trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 có phải cùng một người ký, viết ra không.
Tại Kết luận giám định số 1001/KLGĐ ngày 19/04/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Trọng Q dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN B” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 và dưới mục “người vay tiền” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trọng Q trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 là do cùng một người ký và viết ra.
Tại Cáo trạng số: 134/CT-VKS ngày 07/10/2022,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Nguyễn Trọng Q về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo Nguyễn Trọng Q giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Q phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Q từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự: Xác nhận Nguyễn Trọng Q đã bồi thường cho ông Lại H T số tiền 47.000.000 đồng (bao gồm tiền thuê và sửa chữa, bảo dưỡng xe) và trả đầy đủ số tiền 80.000.000 đồng đã vay của anh Nguyễn Anh T để khắc phục hậu quả. Cả hai đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xác nhận cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis màu đen, BKS 88A-119.79 cho bà Lại Thị Thanh H, sinh năm 1966. Bà H nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng.
Bị hại: Ông Lại H T vắng mặt tại phiên toà, quá trình điều tra ông T trình bày: khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS: 21B1 – 750.65 đến nhà ông Lại H T, sinh năm 1963 trú tại số nhà 218, đường Hùng Vương, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đặt vấn đề thuê 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis màu đen, BKS 88A-119.79 để đi lại, ông T đồng ý. Ông T làm hợp đồng cho Q thuê chiếc xe trên, trong đó thỏa thuận thời gian thuê xe từ ngày 01/3/2022 đến 19h ngày 07/03/2022 với giá thuê xe là 700.000 đồng/ngày. Sau khi viết xong hợp đồng, ông T giao chiếc xe trên cho Q cùng một số giấy tờ, gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự và 01 Giấy biên nhận giữ bản chính đăng ký xe có xác nhận của Ngân hàng VP Bank số 050721, Q để lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS: 21B1 – 750.65 và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Trọng Q để làm tài sản đảm bảo. Ngày 02/03/2022, Q gọi điện cho ông Lại H T và thông báo đã cầm cố chiếc xe ô tô trên để vay tiền, ông T không đồng ý và yêu cầu Q phải trả xe. Đến ngày 07/03/2022, sau khi hết thời hạn thuê xe theo hợp đồng đã ký, ông Lại H T liên lạc với Q để yêu cầu Q trả xe nhưng Q vẫn không trả xe nên ngày 09/03/2022, ông T đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc, sau khi sự việc xảy ra Q đã đến nhà bồi thường cho ông Lại H T số tiền 47.000.000 đồng (bao gồm tiền thuê và sửa chữa, bảo dưỡng xe), ông T đã nhận tiền không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Q.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lại Thị Thanh H vắng mặt tại phiên toà, quá trình điều tra bà H trình bày: Bà là vợ của ông Lại H T là chủ sử dụng chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis màu đen, BKS 88A-119.79, mua chiếc xe trên và đăng ký chính chủ vào năm 2020; hiện tại xe ô tô đang được thế chấp tại Ngân hàng Việt Nam thịnh vượng (VPbank) Chi nhánh Vĩnh Phúc; Ngân hàng đang quản lý giấy Đăng ký xe bản gốc còn vợ cH ông T sử dụng chiếc xe trên để kinh doanh dịch vụ cho thuê xe. Ngày 15/04/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên đã trả lại chiếc xe trên cho bà Lê Thị Thanh H, bà H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác đối với Q.
Anh Nguyễn Anh T trình bày: Khoảng 07 giờ 00 ngày 01/3/2022, Q điện thoại cho anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1980 trú tại thôn Đồng Lạc, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc nói là sẽ mang ô tô đến nhà anh T và đề nghị cho Q vay số tiền 50.000.000đ. Do Q đã đến vay tiền nhiều lần nên anh T đồng ý. Tại đây, Q hứa hẹn với anh T chỉ ngồi tại nhà anh T để xử lý công việc môi giới bán đất, nếu trong buổi sáng thu lại được tiền từ môi giới đất sẽ trả lại cho anh T và chuộc xe về. Q viết 01 giấy vay nợ số tiền trên cho anh T, sau đó anh T dùng tài khoản Ngân hàng Vietcombank (số tài khoản 0361000399669) chuyển số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng Techcombank của Q (số tài khoản 190336878864014). Sau khi nhận được tiền thì Q ngồi tại nhà anh T, đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Q tiếp tục hỏi vay của anh T số tiền 30.000.000đ anh T đồng ý và chuyển khoản cho Q số tiền trên, đến khoảng 11 giờ cùng ngày Q chưa có tiền trả nên Q đã để lại cho anh T chiếc xe ô tô BKS: 88A – 119.79 cùng một số giấy tờ xe và giấy tờ cá nhân kèm theo để bảo đảm như thoả thuận ban đầu rồi nhờ anh T đưa về. Ngày 21/03/2022 anh T biết chiếc xe trên là tài sản do Q phạm tội mà có nên anh T đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis màu đen, BKS 88A-119.79 cùng 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc; 01 Giấy chứng nhận kiểm định; 01 Biên lai thu tiền phí sử dụng đường bộ; 01 biên nhận giữ bản chính đăng ký xe có xác nhận của Ngân hàng VP Bank số 050721; 01 hợp đồng vay tiền kiêm nhận nợ và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Trọng Q. Quá trình giải quyết vụ án Q đã trả lại toàn bộ số tiền vay cho anh T và anh T không có yêu cầu gì khác.
Bị cáo Nguyễn Trọng Q không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Q tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vâ ̣t đa thu giữ
̃ , các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/3/2022, tại số nhà 218, đường Hùng Vương, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Trọng Q đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, thỏa thuận ký hợp đồng thuê 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis màu đen, BKS 88A-119.79 của ông Lại H T với giá 700.000đ/ngày để làm phương tiện đi lại. Nhưng, ngay sau khi thuê được xe, Q đã điều khiển chiếc xe trên đến nhà anh Nguyễn Anh T ở xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc cầm cố cho anh T lấy 80.000.000đ. Toàn bộ số tiền trên được Q sử dụng để mua và đào tiền ảo trên mạng, khi hết thời hạn thuê xe, Q không chuộc xe ô tô để trả lại cho ông T. Trị giá chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis màu đen, BKS 88A-119.79 theo kết luận định giá là 430.000.0000đ.
Hành vi của bị cáo Q đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
…”
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hô ̣i đồng xét xử nhận thấy :
Bị cáo phạm tội theo khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 15 năm nên theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm tội rất nghiêm trọng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho bị hại và trả tiền cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) làm căn cứ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nếu để cải tạo tại địa phương sẽ không có tác dụng giáo dục nói chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
Đối với người có liên quan và hành vi có liên quan trong vụ án gồm:
Đối với anh Nguyễn Anh T là người đã nhận chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis màu đen, BKS 88A-119.79 do Nguyễn Trọng Q cầm cố. Quá trình điều tra xác định: Khi cầm cố chiếc xe, anh T không biết chiếc xe trên là tại sản do người khác phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với người nam giới tên Lê Minh Tường và Lê Văn Hiếu là chủ sở hữu của hai số tài khoản Q chuyển khoản để mua tiền ảo. Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên đã ủy thác điều tra lấy lời khai và xác minh nhân thân của hai người này. Tuy nhiên, Tường và Hiếu đều vắng mặt tại địa phương, không biết đi đâu và làm gì. Do vậy Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 100.000.000đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Xác nhận cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Altis màu đen, BKS 88A-119.79 cho bà Lại Thị Thanh H, sinh năm 1966, bà H nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận Nguyễn Trọng Q đã bồi thường cho ông Lại H T số tiền 47.000.000 đồng (bao gồm tiền thuê và sửa chữa, bảo dưỡng xe) và trả đầy đủ số tiền 80.000.000 đồng đã vay của anh Nguyễn Anh T để khắc phục hậu quả. Cả hai đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng Q 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo (ngày15/6/2022).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Trọng Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền khác cáo trong thời hạn 15 ngày kết từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết./.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND thành phố Vĩnh Yên; - Công an thành phố Vĩnh Yên; - Chi cục thi hành án Vĩnh Yên; - Thi hành án hình sự; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Vũ Thị Kim Dung Nguyễn Thị Thanh Mai | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Văn Tiến THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Văn Tiến |