- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo trong vụ án đều phải…
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 147/2022/HS-ST Ngày 28-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Khang
Bà Nguyễn Thị Tư, là nguyên hiệu trưởng Tr tiểu học Thái Phiên.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Phạm TA, sinh ngày 11 tháng 9 năm 2004 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số phường V, quận Ng, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Phạm Thị Thanh H và không xác định bố đẻ; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 26/7/2022, Ủy ban nhân dân phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; nhân thân: Ngày 03/11/2022 Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo đang bị tạm giữ 15/8/2022, tạm giam ngày 24/8/2022; có mặt;
2. Nguyễn Xuân Tr, sinh ngày 11 tháng 01 năm 2002 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện V, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Thường và bà Nguyễn Thị Duyên (đều đã chết); chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam kể từ ngày 24/9/2022; có mặt;
- Bị hại: Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Th; đại diện theo uỷ quyền là ông Trần TA, sinh năm 1985; trú tại: Số lô khu D2 Cát Bi, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị A; trú tại: Số Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 27/7/2022, Phạm TA, Nguyễn Xuân Tr và Sùng A Thái, sinh năm 2002, nơi cư trú: Bản Nông Lay, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La cùng nhau ngồi chơi nói chuyện tại khu vực hàng rào ngăn cách tòa nhà TD plaza (Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Thùy Dương) và siêu thị Go thì TA thấy các xe mô tô có thể đi lại tự do ở khu vực này nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. TA cho Thái tiền đi ăn sáng rồi một mình đi bộ vào khu vực bãi gửi xe số 2 tòa nhà TD plaza tìm kiếm tài sản để trộm cắp. TA phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Nouvo màu đỏ đen, BKS: 17B5-039.97 vẫn cắm chìa khóa xe ở ổ khóa nên quay ra bàn bạc với Tr sẽ lấy chiếc xe mô tô trên thì Tr đồng ý. TA quay lại vị trí để chiếc xe mô tô, mở cốp xe lấy mũ bảo hiểm và khẩu trang đeo vào rồi điều khiển xe mô tô ra khỏi nhà xe số 2, đi men theo hàng rào ngăn cách tòa nhà TD plaza và siêu thị Go ra khu vực phía sau tòa nhà TD plaza đón Tr. Cả hai điều khiển xe mô tô đi tìm nơi bán nhưng không được do không có giấy đăng ký sở hữu xe. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, TA chở Tr về khu vực siêu thị Go rồi một mình điều khiển xe mô tô về nhà tại số 20 CT3 A3 phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền cất giấu thì bị gia đình phát hiện, giữ xe mô tô lại và trình báo Cơ quan công an.
Bộ phận an ninh Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Thùy Dương sau khi phát hiện TA trộm cắp xe mô tô đã trình báo đến Công an phường Đằng Giang. Chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thị A, nơi cư trú: số 12 D36 Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền gửi cho Bộ phận an ninh, Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Thùy Dương quản lý.
Bản Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 10/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu đỏ đen, BKS: 17B5-039.97 tại thời điểm bị xâm hại có giá 5.000.000 đồng. Đối với chiếc mũ bảo hiểm và khẩu trang không thu hồi được, chị Atrình bày đã mua từ lâu, không còn giá trị nên không đề nghị xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm TA và Nguyễn Xuân Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bản Kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra đã xác định được chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô BKS: 17B5-039.97 là chị Nguyễn Thị Á, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Aquản lý, sử dụng. Chị Avà Bộ phận an ninh Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Thùy Dương không yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại Cáo trạng số 149/CT-VKSNQ ngày 21/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, không có lý do.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38, 58, 91, 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; Căn cứ Điều 56; Điều 104 của Bộ luật Hình sự tổng hợp với hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù của bản án số 93/2022/HSST ngày 03/11/2022 của Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền do bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra đã xác định được chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô BKS: 17B5-039.97 là chị Nguyễn Thị A, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Aquản lý, sử dụng. Chị Avà người đại diện của Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Thùy Dương không yêu cầu, đề nghị gì khác nên không đặt ra để giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, không có lý do nhưng trước đó, tại cơ quan điều tra họ đã có lời khai thể hiện quan điểm và bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh:
Về căn cứ xác định bị cáo có tội:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 08 giờ ngày 27/7/2022, Phạm TA và Nguyễn Xuân Tr có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu đỏ đen, BKS: 17B5-039.97, theo Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 10/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận Ngô Quyền xác định có trị giá 5.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Agửi tại nhà để xe số 2 tòa nhà TD plaza do Bộ phận an ninh Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Thùy Dương quản lý.
Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự
Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội nên phải xử lý nghiêm.
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
+ Về vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Bị cáo Phạm TA có vai trò chính, là người chủ mưu và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo Nguyễn Xuân Tr giúp sức nên có vai trò thấp hơn bị cáo Phạm TA.
+ Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Phạm TA được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Xuân Tr được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Phạm tội lần đầu thuộc Tr hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Về hình phạt chính:
Bị cáo Phạm TA là người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng đAgiá là có nhân thân xấu: Ngày 26/7/2022, Ủy ban nhân dân phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 23/8/2022, Công an huyện An Dương khởi tố về tội Trộm cắp tài sản và tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/2022/HS-ST ngày 03/11/2022 Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, án đã có hiệu lục pháp luật. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo tại Cơ sở giam giữ một thời gian theo khoản 1 Điều 38; Điều 101 Bộ luật Hình sự để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Phạm TA cần tổng hợp hình phạt của Bản án số 93/2022/HS-ST ngày 03/11/2022 Toà án nhân dân huyện An Dương để quyết định hình phạt chung theo khoản 1 Điều 56; Điều 104 của Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Nguyễn Xuân Tr do không có nơi cư trú cố định, sống lang thang nên cũng cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo tại Cơ sở giam giữ một thời gian theo khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
+ Về hình phạt bổ sung:
Do tại thời điểm phạm tội bị cáo Phạm TA chưa đủ 18 tuổi, mặt khác, các bị cáo đều không có thu nhập, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
+ Về trách nhiệm dân sự:
Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Aquản lý, sử dụng. Chị Avà người đại diện của Công ty Cổ phần xây dựng và thương mại Thùy Dương không yêu cầu, đề nghị gì khác. Đối với chiếc mũ bảo hiểm và khẩu trang không thu hồi được, chị Atrình bày đã mua từ lâu, không còn giá trị nên không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về án phí:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
+ Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38, 56, 58, 91, 101, 104 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm TA 12 (mười hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù của Bản án số 93/2022/HSST ngày 03/11/2022 của Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày tạm giữ 15/8/2022.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Xuân Tr 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày tạm giam 24/9/2022.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo trong vụ án đều phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Tr hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - TAND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận Ngô Quyền; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |