- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh N phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Nguyễn Thanh N cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số 147/2021/HS-PT Ngày 30 - 9 - 2021 NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Vi Văn Chắt.
Các Thẩm phán:
Bà Thái Thị Hồng Vân
Ông Nguyễn Hữu Hà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 179/2021/TLPT-HS ngày 10 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Thanh N bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 97/2021/HS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh N, tên gọi khác: Không; sinh ngày 18 tháng 4 năm 2000 tại thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối 5, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Chanh Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại không kháng cáo: Anh Lô Thanh H, sinh năm 2000; địa chỉ: Khối 3, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07 tháng 02 năm 2021, Nguyễn Thanh N đi sang phòng trọ của anh Lô Thanh H để nói chuyện cùng với H và Vi Nhật H, sinh năm 2004; trú tại bản H, xã T, huyện K, tỉnh Nghệ An. Ngồi nói chuyện được một lúc thì Hùng đứng dậy đi lấy hàng, N đi về phòng của mình của Hiền ra ngoài tắm. Sau khi quay trở về phòng của mình, N thấy phòng của N không có tai ở trong nên đã nảy sinh ý định lẻn vào để trộm cắp tài sản. Sau đó, N lẻn vào phòng của anh H thì thấy một chiếc ví màu đen đang để ở dưới gối ở trên giường ngủ, N mở ví ra và lấy trộm số tiền 4.000.000 đồng rồi để chiếc ví lại vị trí cũ. Sau khi lấy trộm được số tiền, N đem cất giấu ở hành lang gần phòng rồi đi ra ngoài lấy hàng. Sau khi bị mất trộm số tiền trên, cùng ngày 07 tháng 02 năm 2021, anh Lô Văn H đã có đơn trình báo sự việc gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh đã thừa nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đồng thời, Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 4.000.000 đồng gồm 06 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng và 05 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng.
Bản án Hình sự sơ thẩm số 97/2021/HS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án hoặc bị cáo tự nguyện thi hành án. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo của bị cáo, người bị hại.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021, bị cáo Nguyễn Thanh N xin Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo với lý do: Mức án 07 tháng tù Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là quá nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi nhận thấy hành vi của mình là sai trái đã tự giác trả lại tài sản cho người bị hại. Bị cáo lần đầu tiên phạm tội, bản thân có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Gia đình có ông bà nội là Đảng viên có 40 năm tuổi Đảng, bà nội Lê Thị B có Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì; cố, chú, bố, mẹ, các anh là những công dân luôn chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bị cáo trong quá trình nhập ngũ được cấp trên tặng giấy khen. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh N giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N, sửa bản án sơ thẩm. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 07 tháng tù và cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 14 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Về án phí phúc thẩm, bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh N: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã xét xử. Ngày 07 tháng 02 năm 2021, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của anh Lô Thanh H, Nguyễn Thanh N đã trộm cắp của anh H số tiền 4.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo về tội danh, chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít phạm tội; sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo và nộp thêm Huân chương kháng chiến hạng Nhì của bà nội là bà Lô Thị B, giấy khen của Trung đoàn trưởng Trung đoàn 764 trong thời gian bị cáo tham gia Quân đội và đơn xin giảm nhẹ hình phạt của người bị hại anh Lô Thanh H nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của Chính quyền địa phương là cũng đủ nghiêm. Do đó, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.
[3] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh N kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 07 (Bảy) tháng tù và cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh N cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Thanh N cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh N không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - TAND huyện Kỳ Sơn; - VKSND, CA huyện Kỳ Sơn; - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn; - Phòng PV06, CA tỉnh Nghệ An; - UBND thị trấn M; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu Tòa Hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Văn Chắt |