vanban.org

Bản án 147/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 13/10/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL.

Buộc bị đơn là bà Trần Thị L phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL (do Ngân hàng TMCP KL – Chi nhánh An Giang đại diện nhận thay) tổng số tiền là 54.628.456 đồng, trong đó, vốn 29.633.151đồng, lãi phát sinh 17.934.832 đồng, lãi phạt châm trả 2.520.000 đồng, phí phạt vượt hạn mức 4.441.473 đồn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "HĐ vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL.
  • Căn cứ chính? Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dụng; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147 /2021/DS – ST
Ngày: 13 – 10 – 2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Hoàng Mai;

2. Ông Đặng Hữu Tấn.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Bích – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Dương Chí Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thụ lý số: 160/2021/TLST – DS ngày 09 tháng 06 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 331/2021/QĐXXST – DS ngày 02/7/2021 và thông báo số 639/2021/TB – TA ngày 13/9/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL

Địa chỉ trụ sở: Số A, đường PHT, phường VTV, thành phố RG, Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn A – Chức vụ Tổng Giám đốc.

Người đại diện cho Ngân hàng TMCP KL: Ông Mai Quốc B, sinh năm 1988, chức vụ Phó Phòng Khách hàng cá nhân Ngân hàng TMCP KL – Chi nhánh An Giang (theo giấy ủy quyền số 23/UQ – CNAG ngày 10/5/2021).

2. Bị đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1964

Địa chỉ: Số B TNH, phường ML, thành phố LX, tỉnh An Giang.

Các đương sự có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 27/5/2021 và tại các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, ông Mai Quốc B là người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 16/10/2018, bà Trần Thị L có đăng ký xin cấp thẻ tín dụng loại Visa hạn của Ngân hàng TMCP KL – CN An Giang hạn mức là 30.000.000đ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KLbank số 1165/18/HĐTD/1200-04709 ngày 16/10/2018. Mục đích sử dụng tín dụng là tiêu dùng, thời hạn vay là 12 tháng, thời hạn sử dụng của thẻ tín dụng 36 tháng, thời hạn thanh toán thẻ tín dụng: 01 tháng, lãi suất cho vay: 22%/năm, hình thức thanh toán: trả lãi hàng tháng, trả gốc hàng tháng. Phía Ngân hàng sẽ chốt dư nợ vào ngày 10 hàng tháng, cách tính lãi của tiền vốn rút tiền mặt là tính trên dư nơ thực tế và số ngày thực tế, đối với dư nợ mua hàng thì khách hàng được trả chậm tối đa là 45, sang ngày thứ 46 thì Ngân hàng mới tính lãi của lần mua hàng đó. Việc cấp tín dụng, sử dụng thẻ, cách tính lãi, phí được quy định tại bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KLbank. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà Trần Thị L đã sử dụng hết hạn mức thẻ tín dụng, đến kỳ thanh toán bà Trần Thị L chưa thanh toán nợ cho Ngân hàng theo đúng hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo đến bà Trần Thị L, nhưng bà L vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký.

Tạm tính đến ngày 13/10/2021 bà Trần Thị L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền vốn là 29.633.151đ, lãi phát sinh là 17.934.832đ, phí phạt vượt hạn mức còn lại là 4.441.473đ, phí phạt chậm trả còn lại là 2.520.000đ, phí thường niên là 99.000đ, tổng cộng là 54.628.456đồng. Ngân hàng yêu cầu bà Trần Thị L trả cho Ngân hàng tổng số tiền 54.628.456đồng, yêu cầu trả tiền lãi phát sinh trên dư nợ từ ngày 14/10/2021 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ.

* Bị đơn bà Trần Thị L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp chứng cứ chứng minh cũng như không phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bà Trần Thị L có mặt, thừa nhận còn nợ số tiền như Ngân hàng KL khởi kiện, tuy nhiên hiện nay do hoàn cảnh khó khăn, bà L xin trả dần mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi hết nợ.

- Ông B đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP KL vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý cho bà L trả dần mỗi tháng 1.000.000đ. Ngân hàng yêu cầu bà L trả một lần số tiền còn nợ.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu:

1. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án

Ngân hàng căn cứ giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KL Bank số 1165/18/HĐTD/1200-04709 ngày 16/10/2018 được ký kết giữa ngân hàng và bà L; Quyết định số 2995 ngày 15/8/2018 của Ngân hàng KL về việc ban hành quy trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín tụng quốc tế KL Bank; Quy định biểu lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam và đô la mỹ tại Ngân hàng TMCP KL, để yêu cầu bà L trả số tiền tạm tính đến ngày 13/10/2021, tổng cộng 54.628.456 đồng. Trong đó, vốn 29.633.151 đồng, lãi phát sinh 17.934.832 đồng, lãi phạt châm trả 2.520.000 đồng, phí phạt vượt hạn mức 4.441.473 đồng, phí thường niên 99.000 đồng và yêu cầu bà L trả lãi phát sinh trên dư nợ từ ngày 14/10/2021 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ, là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL với bà Trần Thị L là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, mục đích vay tiêu dùng phục vụ nhu cầu đời sống được xem là tranh chấp dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ông Lê Hữu Đ được người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng ủy quyền theo Quyết định số 1418/QĐ – NHKL ngày 01/7/2020, ông Đ tiếp tục ủy quyền lại cho ông Mai Quốc B theo giấy ủy quyền số 23/UQ – CNAG ngày 10/5/2021. Việc ủy quyền được thực hiện đúng trình tự. Về hình thức và nội dung ủy quyền không trái với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung:

Vào ngày 16/10/2018, bà Trần Thị L có đăng ký xin cấp thẻ tín dụng loại Visa của Ngân hàng TMCP KL – CN An Giang hạn mức là 30.000.000đ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KLbank số 1165/18/HĐTD/1200-04709 ngày 16/10/2018. Mục đích sử dụng tín dụng là tiêu dùng, thời hạn vay là 12 tháng, thời hạn sử dụng của thẻ tín dụng 36 tháng, thời hạn thanh toán thẻ tín dụng: 01 tháng, lãi suất cho vay: 22%/năm, hình thức thanh toán: trả lãi hàng tháng, trả gốc hàng tháng. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà L đã sử dụng hết hạn mức thẻ tín dụng, đến kỳ thanh toán, bà Trần Thị L chưa thanh toán nợ cho Ngân hàng theo đúng hợp đồng. Số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 13/10/2021 là 54.628.456đồng.

Xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng, bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay được các bên thỏa thuận, cam kết. Việc bên vay vi phạm đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên cho vay. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 466 của Bộ luật Dân sự quyết định chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà L trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/10/2021 tổng cộng là 54.628.456 đồng, trong đó, vốn 29.633.151đồng, lãi phát sinh 17.934.832 đồng, lãi phạt châm trả 2.520.000 đồng, phí phạt vượt hạn mức 4.441.473 đồng, phí thường niên 99.000 đồng. bà L còn phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh kể từ ngày 14/10/2021 cho đến khi thanh toán hết tiền còn nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Ngân hàng TMCP KL được nhận lại (do Ngân hàng TMCP KL – Chi nhánh An Giang đại diện nhận thay) tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.198.000đ (một triệu một trăm chín mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000473 ngày 09/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố LX.

Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 2.731.422đ (hai triệu bảy trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm hai mươi hai đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng;

- Các Điều 463, 465, 466 470 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự;

- Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL.

Buộc bị đơn là bà Trần Thị L phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần KL (do Ngân hàng TMCP KL – Chi nhánh An Giang đại diện nhận thay) tổng số tiền là 54.628.456 đồng, trong đó, vốn 29.633.151đồng, lãi phát sinh 17.934.832 đồng, lãi phạt châm trả 2.520.000 đồng, phí phạt vượt hạn mức 4.441.473 đồng, phí thường niên 99.000 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (14/10/2021), khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nơ gốc. Trường hợp trong hợp đồng vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

* Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng TMCP KL được nhận lại (do Ngân hàng TMCP KL – Chi nhánh An Giang đại diện nhận thay) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.198.000đ (một triệu một trăm chín mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000473 ngày 09/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố LX.

Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 2.731.422đ (hai triệu bảy trăm ba mươi mốt nghìn bốn trăm hai mươi hai đồng).

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ