vanban.org

Bản án 147/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2019. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công H phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 147/2019/HS-ST
Ngày: 26 - 6 - 2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Thiện;

2/ Bà Nguyễn Ngọc Hồng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh - Thƣ ký của Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 130/2019/TLST- HS ngày 23 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 142/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Công H, sinh năm 1989 tại tỉnh N; nơi cƣ trú: Xã M, huyện T, tỉnh N; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công N, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954; vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; bị cáo chƣa có con.

Tiền án: Ngày 28 tháng 9 năm 2017, bị Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 220/2017/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 09/9/2018.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/5/2007, bị cáo bị Ủy ban nhân dân tỉnh N đƣa vào Cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 1719; ngày 29/10/2010, bị Tòa án nhân dân huyện D (nay là thị xã D), tỉnh Bình Dƣơng tuyên xử 01 năm 4 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 276/2010/HSST; ngày 23/8/2012, bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 227/2012/HSST; ngày 01/8/2013, bị Tòa án nhân dân quận huyện T, tỉnh N xử phạt 01 năm 06 tháng tù về hành vi Trộm cắp tài sản theo Bản án số 80/2013/HSST;

Bị bắt, tạm giam từ ngày 08/3/2019 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trần Hoàng K, sinh năm 1992; nơi cƣ trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh C, vắng mặt.

Ngƣời làm chứng:

- Ông Trần Hoàng K, sinh năm 1990;

- Ông Lê Quang D, sinh năm 1987;

- Bà Đỗ Thị Hồng N, sinh năm 1977;

- Ông Phạm Minh T, sinh năm 1977.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 08/3/2019, ông Trần Hoàng K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 69F1-297.29 đến nhà anh trai đang thuê trọ tại địa chỉ số A, khu phố B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng chơi. Khi đến nơi ông K để xe mô tô ở trƣớc nhà, trên xe vẫn cắm sẵn chìa khóa rồi đi vào trong nhà nằm xem điện thoại. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/3/2019, Nguyễn Công H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh, biển kiểm soát 37P1-400.26 chở theo phía sau ngƣời bạn tên P (không rõ lai lịch, địa chỉ) đi hƣớng từ phƣờng A đến khu phố B, phƣờng H, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Khi đi ngang khu phố B, phƣờng B nêu trên thì P phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius mang biển kiểm soát 69F1-297.29 đang dựng trƣớc cửa nhà không có ngƣời trông coi, trên xe cắm sẵn chìa khóa nên P nói H quay xe lại để P lấy trộm thì H đồng ý và điều khiển xe quay lại cách vị trí xe mô tô Yamaha Sirius khoảng 5m, P xuống xe đi bộ vào trong còn H thì điều khiển xe quay ngƣợc lại chạy đến nhà một ngƣời bạn (không rõ nhân thân, lai lịch) gần đó để trả cục sạc điện thoại. Khoảng 10 phút sau, P dùng số điện thoại gắn sim số 0842050341 gọi vào điện thoại vào sim số 0971069317 của H và nhờ H quay lại vị trí vừa lấy trộm xe để chỉ đƣờng cho P ra ngoài do P không biết đƣờng. H chạy xe quay lại thì thấy P đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 69F1-297.29, H chỉ đƣờng cho P chạy xe ra khỏi Khu dân cƣ M, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Sau đó, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vision về nhà trọ tại khu phố B, phƣờng B, thị xã T còn P điều khiển xe Sirius mang biển kiểm soát 69F1-297.29 đi đâu không rõ. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, P điện thoại cho H và nói H đến nhà xe chung cƣ Đ để lấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 69F1-297.29 mà P đã trộm đƣợc đang để ở đó để giao cho một ngƣời bạn của P (không nói rõ là ai) để lấy số tiền 7.500.000 đồng. Khi H đến nhà xe thì bà Đỗ Thị Hồng N là nhân viên giữ xe tại chung cƣ Đ không cho H lấy xe ra với lý do H không xuất trình đƣợc thẻ gửi xe và giấy tờ của xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 69F1-297.29. Sau đó, H liền đề nghị đƣa cho bà N 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Công H và 01 xe mô tô 02 bánh hiệu Vision, biển kiểm soát 37P1-400.26 của H ở lại làm tin để bà N cho H đƣợc lấy xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 69F1-297.29 ra nhƣng bà N không đồng ý. Thấy có dấu hiệu khả nghi nên bà N báo Công an phƣờng B đến mời Nguyễn Công H về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 69F1-297.29, số khung C6K0GY289888, số máy 5C6K289898.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển kiểm soát 37P1-400.26, số khung: 5819GY034639, số máy JF66E0034674.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu vàng, kèm theo sim số 0971069317.

Theo Biên bản định giá tài sản và bản kết luận định giá tài sản ngày 12/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Thuận An xác định: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 69F1-297.29 có giá trị là 14.000.000đồng.

Bản Cáo trạng số 151/CT-VKS-TA ngày 23 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Công H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, xác định:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án, chƣa đƣợc xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trƣờng hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Công H mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 69F1-297.29 qua điều tra xác định là xe của bị hại ông Trần Hoàng K đứng tên giấy đăng ký xe ngày 08/6/2016 nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông K.

- Đối với xe mô tô 02 bánh nhãn hiệu Honda, số loại JF581 Vision, dung tích xy lanh 108,2cm3 biển kiểm soát 37P1-400.26, số khung RLHJF5819GY034639, số máy JF66E-0034674 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu vàng (không kiểm tra đƣợc Imei), kèm theo sim số 0971069317 là phƣơng tiện bị cáo H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc;

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Hoàng K không có yêu cầu bồi thƣờng gì nên không đặt ra xem xét.

Đối với đối tƣợng tên P là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội do chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo ăn năn, hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để đƣợc sớm trở về với gia đình, làm ngƣời công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Công H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/3/2019, tại số nhà A, khu phố B, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng bị cáo Nguyễn Công H và đối tƣợng tên P có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là chiếc xe mô tô 02 bánh nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 69F1-297.29, số khung C6K0GY289888, số máy 5C6K289898 của bị hại Trần Hoàng K có giá trị là 14.000.000đồng. Trong vụ án này, bị cáo H là đồng phạm với vai trò giúp sức cho đối tƣợng tên P thực hiện hành vi phạm tội.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo Nguyễn Công H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi nên bị cáo cùng đồng phạm đã cố ý thực hiện.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản nhƣ nêu trên nhƣng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 28 tháng 9 năm 2017, bị Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 220/2017/HSST, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 09/9/2018, chƣa đƣợc xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trƣờng hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên đƣợc chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 69F1-297.29 là tài sản thuộc sở hữu của bị hại ông Trần Hoàng K, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông K là đúng quy định.

- Đối với (một) xe mô tô 02 bánh nhãn hiệu Honda, số loại JF581 Vision, dung tích xy lanh 108,2cm3 biển kiểm soát 37P1-400.26, số khung RLHJF5819GY034639, số máy JF66E-0034674 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu vàng (không kiểm tra đƣợc Imei), kèm theo sim số 0971069317 thuộc sở hữu của bị cáo H và bị cáo đã sử dụng xe, điện thoại này làm phƣơng tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Hoàng K không có yêu cầu bồi thƣờng gì nên không đặt ra xem xét.

Đối với đối tƣợng tên P là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội do chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 47, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2019.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, số loại JF581 Vision, dung tích xy lanh 108,2cm3, biển kiểm soát 37P1-400.26, số khung RLHJF5819GY034639, số máy JF66E-0034674 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu vàng (không kiểm tra đƣợc Imei), kèm theo sim số 0971069317.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/5/2019 giữa Công an thị xã T, tỉnh Bình Dương và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ