- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị C và ông Huỳnh Văn U là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 147/2019/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 11 - 2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Lộc.
Ông Trần Minh Út.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 355/2019/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 10 năm 2019, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 278/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1982 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn U, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Cùng cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21/10/2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị C trình bày:
Về hôn nhân, vào năm 2000 bà (Nguyễn Thị C) và ông Huỳnh Văn U xác lập quan hệ vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn U. Về con chung có 02 người tên là Huỳnh N (giới tính nữ), sinh ngày 02/4/2001 và Huỳnh Thanh H (giới tính nữ), sinh ngày 10/8/2003. Đối với Huỳnh N đã thành niên, có khả năng tự lao động sinh sống nên không yêu cầu giải quyết. Đối với Huỳnh Thanh H bà yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu ông Huỳnh Văn U cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Huỳnh Văn U đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị C yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Huỳnh Văn U nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Huỳnh Văn U vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.
[2]. Xét về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C xác định vào năm 2000, bà và ông Huỳnh Văn U xác lập quan hệ vợ chồng đến nay không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được mặc dù đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà Nguyễn Thị C yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn U. Ông Huỳnh Văn U đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai chứng cứ để Tòa án xem xét cho thấy ông Huỳnh Văn U không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị C và ông Huỳnh Văn U vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Căn cứ vào các điều 9, 14 và 53 của Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị C và ông Huỳnh Văn U không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà Nguyễn Thị C và ông Huỳnh Văn U không được công nhận là vợ chồng.
[3]. Về con chung: Bà Nguyễn Thị C xác định giữa bà và ông Huỳnh Văn U có 02 người con chung tên là Huỳnh N (giới tính nữ), sinh ngày 02/4/2001 và Huỳnh Thanh H (giới tính nữ), sinh ngày 10/8/2003. Đối với Huỳnh Như đã thành niên, có khả năng tự lao động sinh sống nên không yêu cầu giải quyết. Đối với Huỳnh Thanh Hà bà yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu ông Huỳnh Văn U cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc yêu cầu nuôi con của bà Nguyễn Thị C phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với nguyện vọng của người con chưa thành niên do đó có cơ sở chấp nhận. Bà Nguyễn Thị C yêu cầu nuôi con, không yêu cầu ông Huỳnh Văn U cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị C nên có cơ sở để ghi nhận. Ông Huỳnh Văn U có quyền, nghĩa vụ thăm nom, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị C xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[5]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Nguyễn Thị C phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 9, 14, 53, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị C và ông Huỳnh Văn U là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị C chịu trách nhiệm nuôi dưỡng Huỳnh Thanh H (giới tính nữ), sinh ngày 10/8/2003 cho đến khi Huỳnh Thanh H đã thành niên và có khả năng tự lao động sinh sống. Ông Huỳnh Văn U không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị C về việc không yêu cầu ông Huỳnh Văn U cấp dưỡng nuôi con.
Ông Huỳnh Văn U có quyền, nghĩa vụ thăm nom, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị C xác định không có, đồng thời không có yêu cầu nên không đặt ra xử lý.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà Nguyễn Thị C đã nộp xong tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019577 ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H.Phú Tân; - Phòng KT-NV & THA (Tòa án tỉnh); - Chi cục THADS H.Phú Tân (khi án có hiệu lực); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thành Phước |