vanban.org

Bản án 147/2017/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ Tuyên án 26/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: - Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận một phần yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm của nguyên đơn chị Nguyễn Thị C; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn D. Buộc chị Nguyễn Thị Thanh D bồi thường cho chị Nguyễn Thị C số tiền 2.263.571 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm hại giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cường, ông Nguyễn Văn Dủ với bị đơn…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: - Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI LAI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2017/DS-ST
Ngày: 26/9/2017
V/v tranh chấp: “Đòi bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thanh Trúc

- Hội thẩm Nhân dân: 1. Ông Lý Hồng Hạnh

2. Ông Lê Hoàng Long

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích Tuyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 58/2017/TLST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2017 về tranh chấp “Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2017/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: 1. Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1977 (có mặt)

2. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1977 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp Đông Thắng, xã Đông Thuận, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

*Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Giới N, sinh năm 1967 (có mặt)

2. Chị Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số 17 khu vực Hòa Long A, phường Thới Hòa, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày:

Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 10 tháng 3 năm 2017, tôi và chồng tôi là anh Nguyễn Văn D đi làm về tới đoạn ấp Đông Thắng, xã Đông Thuận, huyện Thới Lai thì gặp D chặn đường kiếm chuyện chửi tôi vì trước đó hai bên cũng có mâu thuẫn. Tôi mới xuống xe, anh D vẫn còn ngồi trên xe, D tiến tới gần chồng tôi chửi nên tôi dùng tay ngăn lại thì D đè đầu tôi xuống đánh, sau đó ông N cầm nón bảo hiểm nhào tới đánh anh D bị trầy trán, nhưng không đánh trúng tôi, cùng với hai người đàn ông đi chung với ông N cũng tham gia đánh vợ chồng tôi. Sau đó, D thì cầm ghế còn ông N cầm khúc cây rượt đuổi vợ chồng tôi nhưng không đánh trúng.

Tôi chỉ bầm lưng, bầm mông, chồng tôi thì bị trầy trán, vợ chồng tôi đi bệnh viện Thới Lai một tuần với chi phí cụ thể:

- Tiền thuốc theo toa là 6.199.731 đồng.

- Tiền đi đứng thăm nuôi (7 ngày nằm viện và đi Cần Thơ thăm khám):

2.200.000 đồng.

- Tiền công lao động 30 ngày của 02 người: 6.000.000 đồng. Công việc

của vợ chồng là bán trái cây ở chợ Đông Thuận với thu nhập mỗi ngày

từ 200.000 đồng trở lên.

Anh Nguyễn Văn D thống nhất với phần trình bày của chị C.

Bị đơn ông Nguyễn Giới N trình bày: Con gái tôi là Nguyễn Thị Thanh D lấy chồng tên Nguyễn Văn Đ là em ruột của ông Nguyễn Văn D. Trong thời gian D sinh sống ở nhà cha mẹ chồng thì có mâu thuẫn với chồng, ông Nguyễn Văn D cùng vợ là Nguyễn Thị C (đã sống riêng, không sống chung nhà với D) rượt đánh, chửi D nhiều lần, D phải chạy trốn ở nhà hàng xóm.

Sau đó, tôi không nhớ ngày cụ thể, tôi nghe nói vợ chồng ông D kêu người đánh D và D điện thoại cho T, tôi nghe sự việc nên liền điện thoại cho Đ kêu Đ can ngăn trước để xảy ra chuyện không hay và nhanh chóng điều khiển xe chạy vô xã Đông Thuận để can ngăn. Khi tôi tới nhà chồng D, tôi gặp Đ nhưng không thấy D nên Đ mới chở tôi đi tìm vì tôi không biết đường, khi tới nhà bà con của Đ thì tôi thấy D cãi vã với vợ chồng D rồi C nhào vô đánh con tôi và D cũng nhào vô đánh luôn. Khi đó, tôi chỉ ngồi bên ngoài xem, có mặt T ở đó, T tới trước tôi. Thấy D bị đánh nên cháu T (tôi chỉ biết tên T, ở cùng địa phương với tôi) Đng cầm nón bảo hiểm trên tay nhảy vô đánh trúng đầu D một cái, tôi mới can ra và mạnh ai nấy đi về nhưng D chạy đi lấy dao (của người hàng xóm dùm cắt chuối) dài khoảng 60cm (gồm cán và lưỡi). Thấy D cầm dao nên tôi có lượm khúc cây tại sân của người ta phơi củi để tự vệ, lúc đó D còn cách tôi khoảng 50m, lúc này vợ D chạy lại ôm D nên tôi và D chưa ai đụng chạm tới ai, rồi mạnh ai nấy về. Tôi không đánh D và vợ D cái nào hết nên không có trách nhiệm bồi thường như vợ chồng D yêu cầu.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh D trình bày: Do mâu thuẫn từ trước, bà C và ông D nhiều lần đánh tôi nhưng tôi không có yêu cầu vì nghĩ là anh chồng và tôi còn chung sống với chồng nên tôi bỏ qua. Nhưng đến ngày 10/3/2017, bà C có kêu người ở Bà Đầm đánh tôi, chị U (ở Bà Đầm) điện thoại báo tôi biết, tôi mới đi tìm vợ chồng bà C hỏi rõ sự việc và lý do vì sao, khi gặp bà C, ông D thì hai bên nói qua nói lại rồi bà C nhào vô đánh tôi, ông D cũng tham gia và tôi cũng phản kháng đánh lại. Lúc này T tới vì tôi điện thoại cho T trước đó khi nghe nói bà C thuê người chuẩn bị đánh tôi. Thấy tôi bị đánh nên T (em bà con nhưng tôi không biết tên họ đầy đủ) có cầm nón bảo hiểm nhào vô đánh ông D một cái.

Cha tôi là ông N chỉ đứng ra can ngăn chứ không tham gia đánh nhau nhưng khi thấy ông D cầm dao chạy lại thì cha tôi có nhặt được khúc cây để tự vệ nhưng chưa đánh bà C, ông D cái nào.

Tôi cũng bị vợ chồng ông D đánh sưng mặt nhưng tôi không đi bệnh viện điều trị và cũng không có yêu cầu. Nay vợ chồng ông D yêu cầu bồi thường thì tôi không đồng ý.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu. Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh D xin vắng mặt vì bận đi làm xa.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi nghị án thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị C, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn D.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xác định quan hệ tranh chấp là“đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26; 35; 39; 184 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh D có yêu cầu xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thanh D.

Xét yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm của nguyên đơn:

1. Về trách nhiệm bồi thường:

Đối với yêu cầu của chị C: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện, vào ngày 10/3/2017 giữa chị C, anh D và chị D có xảy ra xô xát. Sau đó, các đương sự được Công an xã Đông Thuận, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ mời làm việc. Tại đây, chị Nguyễn Thị Thanh D cũng thừa nhận có hành vi đánh nhau (biên bản ghi lời khai – bút lục 13, 14; tờ nhận tội - bút lục 15). Tuy nhiên, chị C, anh D cho rằng chị D chỉ gây thương tích cho chị C, còn thương tích của anh D thì không phải chị D gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy chị D chỉ có trách nhiệm bồi thường cho chị C.

Đối với yêu cầu của anh D: Căn cứ vào các lời khai của anh D tại phiên tòa và biên bản hòa giải, biên bản đối chất thì các lời khai không thống nhất, cụ thể tại biên bản đối chất (bút lục 183 – 184) anh D cho rằng: “Sau khi sự việc xảy ra, tôi bị thương vùng đầu do có người cầm nón bảo hiểm đánh vào đầu tôi, tôi không xác định được ai đánh vì bên phía D có ông N và 02 người thanh niên cùng nhào vô đánh”. Ngoài ra, lời khai của những người làm chứng của bà Võ Thị Đng (bút lục 07) và bà Nguyễn Thị Nga (bút lục 11) đều cho rằng chỉ thấy hai bên xô xát mà không thấy rõ ai đánh ai và cũng không thấy ai bị thương tích. Đối chiếu với lời khai của ông N tại Công an xã Đông Thuận và tại Tòa án, ông N không thừa nhận gây thương tích cho chị C, anh D mà cho rằng T cầm nón bảo hiểm đánh một cái trúng đầu của ông D. Từ những chứng cứ trên, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn D yêu cầu ông N và chị D bồi thường thiệt hại.

Theo lời khai của nguyên đơn, khi sự việc xảy ra thì có hai người thanh niên tham gia đánh nguyên đơn nhưng nguyên đơn không có yêu cầu gì với hai người này và không cung cấp được họ tên địa chỉ cụ thể; bị đơn ông N và chị D cho rằng chỉ có T (một trong hai người thanh niên mà nguyên đơn nại ra) đánh ông D, người còn lại là người lái xe mô tô chở khách thuê (chở T) không tham gia đánh ai, bị đơn cũng không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của T và người chở T, hơn nữa, T thường xuyên không có mặt ở địa phương. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đều xác định không yêu cầu Tòa án triệu tập T và người chở T với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cũng như không yêu cầu hoãn phiên tòa để tìm họ tên và địa chỉ cụ thể cung cấp cho Tòa án triệu tập làm rõ vì các đương sự xác định không thể cung cấp được nên khi nào ông D có yêu cầu thì sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

2. Về phạm vi bồi thường:

Sau khi xảy ra xô xát với chị D, chị C cho rằng chị bị bầm vùng mông và đau nhức T thân, chị phải đi điều trị, tại phiên tòa, chị C vẫn giữ yêu cầu bồi thường các khoản:

- Tiền thuốc theo toa là 6.199.731 đồng.

- Tiền đi đứng thăm nuôi (7 ngày nằm viện và đi Cần Thơ thăm khám):

2.200.000 đồng.

- Tiền công lao động 30 ngày của 02 người: 6.000.000 đồng. Công việc

của vợ chồng là bán trái cây ở chợ Đông Thuận với thu nhập mỗi ngày

từ 200.000 đồng trở lên.

Đối với những hóa đơn từ ngày 21 đến ngày 23/3/2017 tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Cần Thơ và tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ do nguyên đơn cung cấp thể hiện nội dung khám tổng quát, xét nghiệm, chụp cắt lớp vi tính của chị C (bút lục 30, 31, 32, 33, 34, 39, 44, 54, 60, 67, 69, 72, 73)… sẽ không được chấp nhận vì yêu cầu khám này không liên quan đến thương tích của nguyên đơn và được xác định là chi phí không hợp lý, không có chỉ định của bác sĩ mà là do người khám yêu cầu. Hơn nữa, khi điều trị ở Bệnh viện đa khoa huyện Thới Lai đã tiến hành chẩn đoán hình ảnh cho chị C (bút lục 58), làm các xét nghiệm liên quan và kết luận không ghi nhận bất thường, bệnh viện cho xuất viện vào ngày 17/3/2017. Nên những chi phí thăm khám và đi lại phát sinh thêm sau khi xuất viện thì nguyên đơn phải tự chi trả.

Căn cứ vào mục 1.1 của Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì chỉ có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị C với các khoản chi phí hợp lý như sau:

Chi phí chữa trị theo toa của chị C tại Trạm y tế xã Đông Thuận và Bệnh viện Đ khoa huyện Thới Lai:

- Tiền thuốc: Tổng cộng là 643.571 đồng, cụ thể gồm:

+ Đơn thuốc ngày 10/3/2017 (bút lục 48): 15.000 đồng;

+ Hóa đơn 17/3/2017 (bút lục 49): 387.000 đồng;

+ Hóa đơn ngày 11/3/2017 – chẩn đoán hình ảnh (bút lục 58):

70.000 đồng;

+ Hóa đơn ngày 17/3/2017 (bút lục 63): 171.571 đồng.

- Chi phí đi lại: 200.000 đồng (cả đi và về từ bệnh viện Thới Lai đến xã

Đông Thuận, huyện Thới Lai)

- Chi phí ăn uống khi nằm viện 07 ngày: 60.000 đồng/người/ngày x 07

ngày = 420.000 đồng.

Do thương tích của nguyên đơn không nghiêm trọng và không ảnh hưởng đến khả năng lao động nên chỉ chấp nhận tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện và phục hồi sức khỏe 03 ngày, tổng cộng là 10 ngày với mức thu nhập nguyên đơn yêu cầu là 100.000 đồng/ngày: 10 ngày x 100.000 đồng/ngày = 1.000.000 đồng.

Tổng cộng các khoản nêu trên, chị Nguyễn Thị Thanh D phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị C số tiền: 2.263.571 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị D phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: - Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự năm;

- Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm của nguyên đơn chị Nguyễn Thị C; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn D. Buộc chị Nguyễn Thị Thanh D bồi thường cho chị Nguyễn Thị C số tiền 2.263.571 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh D phải nộp 300.000 đồng.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ