- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "T.C HĐ vay tài sản"
- Tòa quyết gì? đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1462/2022/DS-ST Ngày: 29-4-2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Thanh Giàu
2. Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân
dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Huệ – Kiểm sát viên
Trong ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý
số: 385/2021/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản” theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 1811/2022/QĐST-DS ngày 31
tháng 3 năm 2022 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1812/2022/QĐXXST-
DS ngày 31 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần AC
Trụ sở: Phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Minh T, sinh năm 1977, chức vụ:
Nhân viên Ngân hàng TMCP AC, là đại diện ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày
1632/UQ-QLN.21 ngày 16/11/2021.
Địa chỉ liên lạc: Phường 11, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Phạm Quốc B, sinh năm 1976
Địa chỉ thường trú: phường Bình Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Địa chỉ nơi cư trú: phường Linh Chiểu, thành phố Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí Minh.
(Ông Võ Minh T có mặt, ông Phạm Quốc B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC trình bày:
Ngày 10 tháng 10 năm 2019, ông Phạm Quốc B có ký với Ngân hàng
Thương mại Cổ phần AC (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, cùng với Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này sau đây gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ vào thu nhập của ông B, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Platinum (Thẻ tín dụng quốc tế), với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, lãi suất (trong hạn, quá hạn) và phí sẽ áp dụng theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, mục đích sử dụng là tiêu dùng. Số tiền thanh toán áp dụng theo mục 9.4 Điều 9 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng của Ngân hàng là ưu tiên thanh toán theo thứ tự sau: Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ và các loại phí, lãi của kỳ trước; giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ và các loại phí, lãi trong kỳ.
Trong quá trình sử dụng thẻ, do khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ thanh
toán theo quy định tại mục 12.2 Điều 12 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông B từ ngày 20 tháng 4 năm 2020; đồng thời, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 11 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Tạm tính đến ngày 29 tháng 4 năm 2022, ông B còn nợ Ngân hàng tổng
số tiền là 95.834.740 đồng, gồm 56.135.854 đồng tiền nợ gốc và 39.698.886 đồng nợ lãi quá hạn (lãi suất quá hạn áp dụng: 150% x mức lãi suất trong hạn theo mức lãi suất do Ngân hàng quy định phù hợp với quy định của pháp luật từng thời kỳ = 27%/năm x 150% = 40,5%/năm, tương đương 3,375%/tháng).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông B vẫn không có thiện chí trả
nợ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình, Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Quốc B phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 29 tháng 4 năm 2022 là 95.834.740 đồng, gồm 56.135.854 đồng tiền nợ gốc và 39.698.886 đồng nợ lãi quá hạn. Ông Phạm Quốc B phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh của Hợp đồng từ ngày 30 tháng 4 năm 2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Thứ tự thanh toán như sau: Vốn gốc, lãi trong hạn và phí, lãi quá hạn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ
lý vụ án, giấy triệu tập cho bị đơn là ông Phạm Quốc B đến Tòa án để trình bày lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông B đều vắng mặt không có lý do, cũng như không gửi cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến của ông B đối với yêu cầu của nguyên đơn nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và vụ án không tiến hành hòa giải được.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền
hạn theo quy định của pháp luật; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố
tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Xác định đúng người tham gia
tố tụng; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật;
Vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về nội dung vụ án: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị
Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về án phí: Bị đơn phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận
định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng
Thương mại Cổ phần AC nộp đơn khởi kiện yêu cầu ông Phạm Quốc B phải
thanh toán khoản nợ còn thiếu theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, ông B có nơi
cư trú tại phường Bình Thọ và phường Linh Chiểu, thành phố Thủ Đức, Thành
phố Hồ Chí Minh. Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí
Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản
1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn – ông Phạm Quốc B đã được Tòa án triệu
tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý
do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành
xét xử vắng mặt ông Phạm Quốc B.
Xét yêu cầu của đương sự:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa
và lời trình bày, xác nhận của người đại diện hợp pháp của các đương sự, Hội
đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 10 tháng 10 năm 2019, ông Phạm Quốc B có ký với Ngân hàng
Thương mại Cổ phần AC (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ
tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, cùng với Bản
Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các
tài liệu này sau đây gọi chung là Hợp đồng). Xét Hợp đồng tín dụng nêu trên
giữa các bên có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa
thuận trong Hợp đồng tín dụng không vi phạm điều cấm của pháp luật, các bên
tự nguyện ký kết Hợp đồng tín dụng nên Hợp đồng tín dụng này phù hợp với quy
định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm
2017), có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Trong quá trình sử dụng thẻ, ông B đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Qua
nhiều lần nhắc nhở nhưng ông B vẫn không có thiện chí trả nợ nên Ngân hàng
đã chấm dứt quyền sử dụng của ông B đối với thẻ tín dụng Visa Platinum (Thẻ
tín dụng quốc tế) từ ngày 20 tháng 4 năm 2020; đồng thời, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn là đúng với quy định tại Điều 11 của Hợp đồng. Tính đến ngày Tòa án xét xử vụ án (ngày 29 tháng 4 năm 2022), ông B còn nợ Ngân hàng với tổng số tiền 95.834.740 đồng, gồm 56.135.854 đồng tiền nợ gốc và 39.698.886 đồng nợ lãi quá hạn.
Xét phía ông B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại mục 12.2
Điều 12 của Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Phạm Quốc B đều vắng mặt và không gửi ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến tranh chấp nêu trên cho Tòa án. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu ông B thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các quy định của pháp luật nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP
ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì việc nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 30 tháng 4 năm 2022 trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định trong Hợp đồng cho đến khi thi hành án xong là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại
phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của
nguyên đơn, buộc bị đơn ông Phạm Quốc B phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 95.834.740 đồng, gồm 56.135.854 đồng tiền nợ gốc và 39.698.886 đồng nợ lãi quá hạn, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thứ tự thanh toán như sau: Vốn gốc, lãi trong hạn và phí, lãi quá hạn.
Kể từ ngày 30 tháng 4 năm 2022 cho đến khi thi hành án xong, ông B còn
phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Về án phí: Bị đơn – ông Phạm Quốc B phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 184, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015;
Căn cứ vào Điều 4, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại
Cổ phần AC:
Buộc ông Phạm Quốc B có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương
mại Cổ phần AC số tiền 95.834.740 đồng, gồm 56.135.854 đồng tiền nợ gốc và
39.698.886 đồng nợ lãi quá hạn theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 10
tháng 10 năm 2019 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ
tín dụng của Ngân hàng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thứ tự thanh toán như sau: Vốn gốc, lãi trong hạn và phí, lãi quá hạn.
Kể từ ngày 30 tháng 4 năm 2022, ông Phạm Quốc B còn phải tiếp tục chịu
khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà
các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc
này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều
chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần AC
thì lãi suất mà ông Phạm Quốc B phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng
Thương mại cổ phần AC theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù
hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần AC.
2. Về án phí:
Ông Phạm Quốc B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 4.791.737 đồng,
nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần AC số tiền tạm ứng án phí
đã nộp là 1.743.174 đồng theo Biên lai thu tạm ứng số: AA/2019/0047896 ngày
17 tháng 5 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và
Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn
15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được
quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP.HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Quyên |