vanban.org

Bản án 146/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 11/09/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Giáp Văn C.

Về con chung: Giao cháu Giáp Ngọc D, sinh ngày 23/7/2021 và cháu Giáp A, sinh ngày 28/11/2023 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật Sau khi ly hôn, anh Giáp Văn C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Ban an HNGD giua anh Nguyen Quang C va chi Nguyen Thi D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Giáp Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11/9/2025
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Gia Lương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thủy

Bà Nguyễn Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh không tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 222/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2025/QĐXX-ST ngày 15/08/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh ngày 07/3/1993 (vắng mặt)

Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: thôn S, xã L, tỉnh N.

2. Bị đơn: Anh Giáp Văn C, sinh ngày 31/8/1993 (vắng mặt)

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx

Nơi cư trú: thôn S, xã L, tỉnh N.

Anh C ủy quyền giao nhận tài liệu với Tòa án cho anh Hoàng Văn H, sinh năm 1989; Nơi cư trú: tổ dân phố Y, phường N, tỉnh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 29/6/2017 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh B (nay là xã L, tỉnh N). Sau khi kết hôn chị về nhà anh C làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2024 anh C đi lao động tại Đ. Sang Đ vợ chồng vẫn hòa thuân nhưng đến tháng 10/2024 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống của người đó. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 10/2024 đến nay chị và anh C không ai quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Giáp Văn C.

Về con chung: anh, chị có 02 con chung là cháu Giáp Ngọc D, sinh ngày 23/7/2021 và cháu Giáp A, sinh ngày 28/11/2023. Sau ly hôn chị đề nghị giao 02 con chung cho chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung cùng chị với mức cấp dưỡng 2.500.000 đồng/ 01 tháng/ 01 cháu.

Về tài sản, công nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai anh Giáp Văn C (có xác nhận của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài B) trình bày:

Về hôn nhân: Về quá trình tìm hiểu đi đến hôn nhân, quá trình chung sống của vợ chồng, nguyên nhân, thời gian mâu thuẫn của vợ chồng anh nhất trí với trình bày của chị H. Nay anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn chị H.

Về con chung: anh, chị có 02 con chung là cháu Giáp Ngọc D, sinh ngày 23/07/2021 và cháu Giáp A, sinh ngày 28/11/2023. Sau ly hôn anh đề nghị giao cháu Giáp Ngọc D cho anh là người trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Giáp A cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị H, anh C vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị H, anh C và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp: chị H khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: anh C hiện đang lao động tại Đ. Anh C là bị đơn hiện đang cư trú tại tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về việc Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Vụ án này Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh không tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh không tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về sự vắng mặt đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về hôn nhân: chị H và anh C kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 29/06/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh B (nay xã L, tỉnh N. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh C.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy: chị H, anh C đều xác định vợ chồng được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận. Nhưng quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên sống ly thân nhau. Anh, chị xác định kể từ tháng 10/2024 đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai còn quan tâm đến nhau. Mặc dù anh, chị đã chủ động nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn và được hai bên gia đình hàn gắn tình cảm nhưng không được. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị H, anh C không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H với anh C là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân.

. Về con chung: Chị H, anh C có 02 con chung là cháu Giáp Ngọc D, sinh ngày 23/7/2021 và cháu Giáp A, sinh ngày 28/11/2023. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng chị H. Sau ly hôn chị H đề nghị giao 02 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Anh C đề nghị giao cháu D cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét đề nghị giao con chung sau ly hôn của chị H, anh C, Hội đồng xét xử thấy: Anh C hiện đang lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Ngoài ra, hiện nay các con chung vẫn đang sinh sống ổn định cùng chị H từ khi anh C đi lao động tại nước ngoài. Các con chung phát triển ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử thấy giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng là không đảm bảo bằng giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 chấp nhận yêu cầu giao nuôi 02 con chung của chị H, không chấp nhận yêu cầu giao nuôi con chung của anh C.

Sau khi ly hôn, anh Giáp Văn C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H đề nghị cấp dưỡng nuôi 02 con chung với mức 2.500.000 đồng/ 01 tháng/ 01 cháu. Anh C không yêu cầu giải quyết.

Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị H, Hội đồng xét xử thấy: chị H đề nghị Tòa án buộc anh C phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung với mức 2.500.000/ 01 tháng / 01 cháu. Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do các đương sự không thống nhất được mức cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/06/2024 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động; Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu buộc anh C phải cấp dưỡng nuôi cháu D, A cùng chị H với mức cấp dưỡng là 2000.000 đồng/01 tháng/01 cháu. Phương thức cấp dưỡng theo tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi xét xử sơ thẩm là tháng 9/2025 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

. Về tài sản chung, công nợ chung: Do chị H, anh C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Giáp Văn C phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

. Về quyền kháng cáo: Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, chị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, anh C đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H.

1. Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Giáp Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu Giáp Ngọc D, sinh ngày 23/7/2021 và cháu Giáp A, sinh ngày 28/11/2023 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật

Sau khi ly hôn, anh Giáp Văn C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Giáp Văn C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi dưỡng 02 con chung cùng chị Hoàng Thị H với mức 2.000.000đồng (hai triệu đồng)/01 tháng/ 01 cháu. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000801ngày 26/06/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh). Xác nhận chị Hoàng Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Anh Giáp Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

5. Về quyền kháng cáo bản án:

Chị Hoàng Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh Giáp Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ