vanban.org

Bản án 146/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 29/05/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:146/2023/HS-PT
Ngày 29/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thông

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Kim Oanh

Bà Kiều Kim Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.

Vào ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 113/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2023/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đô

Họ và tên bị cáo: Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ, tên gọi khác: T, sinh năm: 1997, tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số H, đường B, Tổ E, Khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Mỹ D, sinh năm 1959; Gia đình có 10 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ, con: Không có; Tiền án: 02 lần:

+ Ngày 19/12/2017, bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 371/2017/HSPT, chấp hành xong ngày 24/4/2019.

+ Ngày 26/11/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 105/2020/HSST, chấp hành xong ngày 25/02/2022;

Tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 21/7/2015, bị Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 41/2015/HSST, chấp hành xong ngày 21/01/2016; Bắt tạm giam ngày: 25/10/2022; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Công Đ1 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc. Địa chỉ: Số D, tổ G, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Công Đ1: Ông Trần Quốc T2, chức vụ Phó giám đốc. Địa chỉ: Tổ H, ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Mỹ D, sinh năm 1959. Cư trú: Số H, đường B, tổ E, khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

(Bị cáo Đ và bà D có mặt; đại diện bị hại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ là người có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Vào khoảng 04 giờ ngày 30/7/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô không nhớ biển số, mượn được của một người bán rau ngoài chợ C để đi công chuyện. Khi bị cáo đi ngang khu vực cống R, đường D thuộc Tổ C, Khóm D, Phường A, thành phố C thì phát hiện một cuộn dây dẫn điện vỏ màu đen để trên bờ kè, một đầu dây nằm âm dưới mặt đất của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2 (sau đây gọi tắt là Công ty Đ2) đang thi công hệ thống chiếu sáng, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo kéo đoạn dây điện ra khỏi mặt đất, quấn thêm 03 vòng thành một cuộn rồi vác để lên yên sau xe mô tô, chạy về đem giấu vào bãi đất trống gần vựa phế liệu trong một hẻm thuộc Khóm D, Phường B, thành phố C. Sau đó, bị cáo trả xe mô tô và về nhà ngủ. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, bị cáo mang theo kiềm cộng lực, kéo, máy cắt kim loại, dây điện đi từ nhà đến bãi đất trống gần vựa phế liệu để cắt cuộn dây điện lấy trộm được ra thành nhiều đoạn nhỏ để đem đi bán. Trong lúc bị cáo đang cắt dây điện thì Công an P, thành phố C đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ toàn bộ tang vật gồm: 39 đoạn dây dẫn điện có vỏ màu đen, bên trong có 4 sợi dây điện nhỏ lõi bằng kim loại màu vàng có tổng chiều dài 67,15 mét; 01 (một) máy cắt nhãn hiệu BOSCH màu đen; 01 (một) cái kéo bằng kim loại; 01 (một) cuộn dây dẫn điện vỏ màu vàng có ổ cắm điện; 01 (một) cây kiềm cộng lực bằng kim loại.

Bị cáo thừa nhận đã lấy trộm số dây điện trên tại Phường A, thành phố C nên Công an P bàn giao Đ cho Công an P1 tiếp nhận và chuyển toàn bộ hồ sơ cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 402/KL-HĐĐGTS ngày 03/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C xác định: Dây dẫn điện loại cáp Tài T, loại CVV/DSTA 3x6+1x4 (nghĩa là bên trong có 03 dây 06 ly và 01 dây 04 ly), dài 67,15 mét đã qua sử dụng, có giá 123.310 đồng/mét x 67,15 mét = 8.280.266 đồng (Tám triệu hai trăm tám mươi nghìn hai trăm sáu mươi sáu đồng).

Do cuộn dây điện mất trộm bị bị cáo cắt làm nhiều đoạn, không thể sử dụng được nên anh Trần Quốc T2 là người được Công ty Đ2 ủy quyền tham gia tố tụng yêu cầu người trộm cắp dây điện bồi thường số tiền theo kết luận định giá tài sản thiệt hại là 8.280.266 đồng.

Đối với 01 máy cắt nhãn hiệu BOSCH màu đen; 01 cái kéo bằng kim loại; 01 cuộn dây dẫn điện vỏ màu vàng có ổ cắm điện và cây kiềm cộng lực bằng kim loại, theo bà Nguyễn Mỹ D (mẹ ruột của Đ) trình bày là của người con trai tên Nguyễn Huỳnh Văn Phú Q, trước đây làm nghề thợ xây để lại nhà cho bà sử dụng. Lúc Đ lấy làm phương tiện cắt dây điện trộm cắp được thì bà D không biết. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà D những đồ vật nêu trên.

Quá trình điều tra, ban đầu Đ khai nhận đã cùng với Bùi Văn T3 thực hiện hành vi trộm cắp cuộn dây điện tại bờ kè cống Rạch C vào ngày 30/7/2022. Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của T3 cũng như thực hiện đối chất giữa Đ và T3. Kết quả xác định, T3 không tham gia cùng Đ trộm cắp và cắt cuộn dây điện nêu trên. Do trước đây cả hai có mâu thuẫn nên Đ khai như vậy để T3 phải đi tù chung với mình. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với Bùi Văn T3. Còn T3 thì lại trình bày có nhìn thấy Đ và Phạm Văn M (tên gọi khác là Minh T4) cùng cắt đoạn dây điện trên tại bãi đất trống gần vựa phế liệu. Qua xác minh, hiện nay M không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Riêng Đ đến thời điểm này khai nhận chỉ đi trộm cắp tài sản và cắt dây điện một mình chứ không thực hiện cùng với người nào khác. Do chỉ có lời khai của T3 nên không đủ căn cứ xử lý đối với Phạm Văn M.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2023/HS-ST ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn T5 Đô 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/10/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 589 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ phải bồi thường cho Công ty TNHH Đ2 số tiền 8.280.266 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành xong.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tiếp tục quản lý 39 đoạn dây dẫn điện có vỏ màu đen, bên trong có 4 sợi dây điện nhỏ lõi bằng kim loại màu vàng có tổng chiều dài 67,15 mét để đảm bảo thi hành án. (Hiện vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang tạm quản lý).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ của luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 414.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Ngày 15/3/2023, bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

- Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Đ giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu thu thập trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện người bị hại vắng mặt, tuy nhiên xét thấy bị cáo Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo luật định.

[2] Qua thẩm tra tại phiên tòa, bị cáo Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 04 giờ ngày 30/7/2022 bị cáo Đ mượn xe mô tô chạy tìm tài sản để trộm, khi đến khu vực Phường A, thành phối Cao Lãnh thấy công trình thi công hệ thống chiếu sáng, bị cáo đến lấy trộm 01 cuộn dây điện dài 67,15 mét của Công ty Đ2. Bị cáo Đ đem đi cắt nhỏ thành nhiều đoạn để bán phế liệu nhưng bị phát hiện và bị cơ quan Công an điều tra làm rõ hành vi của bị cáo. Theo kết luận định giá tài sản trị giá là 8.280.266 đồng.

Lời nhận tội của bị cáo Đ là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, xâm phạm tài sản của người khác trái pháp luật, tài sản của công dân là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý, chiếm đoạt tài sản của người bị hại trị giá 8.280.266 đồng. Bị cáo Đ có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản nên thực hiện phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là phù hợp, tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư cho bị cáo là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo có công với Cách mạng, ông ngoại của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, cậu ruột của bị cáo là liệt sỹ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cùng gia đình của bị cáo đã tích cực tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại đủ số tiền 8.280.266 đồng, đồng thời người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết mới quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho bị cáo Đ.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/10/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 589 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ phải bồi thường cho Công ty TNHH Đ2 số tiền 8.280.266 đồng (Đã bồi thường xong).

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tiếp tục quản lý 39 (ba mươi chín) đoạn dây dẫn điện có vỏ màu đen, bên trong có 4 sợi dây điện nhỏ lõi bằng kim loại màu vàng có tổng chiều dài 67,15 mét để đảm bảo thi hành án. (Hiện vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang tạm quản lý).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ của luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 414.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Huỳnh Văn Tây Đ không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ