vanban.org

Bản án 146/2023/DS-ST — Dân sự

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 07/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn L. Buộc bà Tô Thị L1 có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn L số tiền nợ là 61.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Án phí dân sự sơ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn L. Buộc bà Tô Thị L1 có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn L số tiền nợ là 61.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2023/DS-ST
Ngày 07-7-2023
V/v tranh chấp hợp đồng
Mua bán tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Giang

Ông Đào Việt Khái

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2023/TLST-DS, ngày 14 tháng 4 năm 2023, về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 285/2023/QĐXXST-DS, ngày 02 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1965 (có mặt)

Cư trú tại: Ấp Đ, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Tô Thị L1 (vắng mặt)

Cư trú tại: Ấp T, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 12 năm 2022, cùng các văn bản khác kèm theo và tại phiên tòa, ông Phạm Văn L trình bày: Khoảng từ năm 2015 đến 2019, ông có bán thức ăn, thuốc thủy sản cho bà Tô Thị L1, đến ngày 13/12/2022 ông và bà Tô Thị L1 đối chiếu nợ thì bà Tô Thị L1 còn nợ ông số tiền 61.334.000 đồng, bà Tô Thị L1 ký xác nhận vào biên bản làm việc về việc xác nhận công nợ và cam kết thanh toán ngày 23 tháng 12 năm 2022 là còn nợ ông số tiền 61.334.000 đồng. Bà Tô Thị L1 hứa khi có tiền sẽ trả cho ông số nợ trên nhưng đến nay chưa trả. Nay ông yêu cầu bà Tô Thị L1 trả cho ông số tiền mua thức ăn, thuốc thủy sản còn nợ là 61.334.000 đồng.

Bà Tô Thị L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung khởi kiện của ông Phạm Văn L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Văn L khởi kiện bà Tô Thị L1 yêu cầu trả số tiền mua thức ăn, thuốc thủy sản còn nợ nên đây là tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Tô Thị L1 cư trú tại ấp T, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Tô Thị L1 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về nội dung tranh chấp: Ông Phạm Văn L khởi kiện bà Tô Thị L1 yêu cầu trả số tiền nợ mua thức ăn, thuốc thủy sản còn nợ là 61.334.000 đồng, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, ông Phạm Văn L cung cấp “Biên bản làm việc về việc xác nhận công nợ và cam kết thanh toán ngày 23 tháng 12 năm 2022” có bà Tô Thị L1 ký xác nhận. Bà Tô Thị L1 đã được triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không có ý kiến, không phản đối và không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn L. Từ đó, có đủ cơ sở xác định bà Tô Thị L1 còn nợ tiền mua thức ăn, thuốc thủy sản của ông Phạm Văn L là 61.334.000 đồng, bà Tô Thị L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ông Phạm Văn L nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn L, buộc bà Tô Thị L1 trả số tiền 61.334.000 đồng cho ông Phạm Văn L là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên ông Phạm Văn L không phải chịu án phí và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí, bà Tô Thị L1 phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 277 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các điều 430 và 440 của Bộ luật dân sự.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn L. Buộc bà Tô Thị L1 có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn L số tiền nợ là 61.334.000 đồng (sáu mươi mốt triệu ba trăm ba mươi bốn nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bà Tô Thị L1 phải chịu 3.066.700 đồng. Ông Phạm Văn L đã nộp tạm ứng án phí với số tiền 1.533.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018813 ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Nay hoàn trả lại toàn bộ cho ông Phạm Văn L là 1.533.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Ông Phạm Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Tô Thị L1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ