vanban.org

Bản án 146/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 17/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Khoản 1 Điều 173, Điều 47, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HÌNH SỰ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Khoản 1 Điều 173, Điều 47, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N,
THÀNH PHỐ C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2022/HS-ST
Ngày: 17/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị A

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị D

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc T

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều T- Thư ký Tòa án nhân dân quận N, thành phố C

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích T - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố C xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 135/2022/HSST ngày 14/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 913/2022/QĐXXST-HS ngày 04/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN THANH N; Giới tính: Nam;

- Tên gọi khác:

- Sinh ngày 15 tháng 5 năm 2000

- Nơi sinh: Cà Mau;

- Nơi ĐKTT: Nhà số 6, làng trẻ SOS, đường T, khóm 8, phường 5, thành phố C, tỉnh C.

- Quốc tịch: Việt Nam;

- Dân tộc: Kinh;

- Tôn giáo: Không;

- Trình độ học vấn: 09/12;

- Nghề nghiệp: Không;

- Họ và tên cha: Lý Quốc K (chết)

- Họ và tên mẹ: Nguyễn Mộng C(chết)

- Bị cáo chưa có vợ, con;

- Tiền án, tiền sự: Chưa;

- Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/7/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N, thành phố C.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Nguyễn Minh Q, sinh năm 1997 và Nguyễn Trúc L, sinh năm 1996. Cùng địa chỉ phường A, quận N, thành phố C. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ ngày 08/7/2022, vợ chồng anh Nguyễn Minh Q, chị Nguyễn Trúc L khóa cửa nhà địa chỉ số phường A, quận N, thành phố C để về quê ở tỉnh K. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, anh Q được hàng xóm báo tin cửa kính nhà anh Q bị đập bể, anh Q cùng vợ về nhà thì phát hiện tài sản bị mất trộm gồm 01 sợi dây chuyền và mặt dây chuyền bằng bạc, 02 nhẫn vàng trọng lượng 02 chỉ (tổng giá trị tài sản bị mất trộm khoảng 12.000.000 đồng) nên anh Q đến Công an phường A trình báo.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh và rà soát đối tượng, xác định Nguyễn Thanh N có đặc điểm giống đối tượng gây án nên mời về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thanh N thừa nhận thường xuyên đi qua ngang nhà anh Q, khoảng 02 giờ ngày 08/7/2022, Nguyễn Thanh N điều khiển xe mô tô biển số 65C1-026.50 đi ngang nhà anh Q thì thấy khóa cửa bên ngoài, không có người trông coi nên N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau đó N về nhà trọ địa chỉ số phường A, quận N cách nhà anh Q khoảng 200 m để cất xe mô tô, rồi đi bộ đến nhà anh Q, lúc này N nhặt cục đá bên đường đập vỡ cửa kính phía trước nhà anh Q, N đi vào bên trong và cắt cầu dao điện để vô hiệu hóa camera an ninh và tìm tài sản lấy trộm, sau đó N đi vào phòng ngủ ở tầng 1 đến bàn trang điểm lục tìm được 02 túi màu đỏ bên trong có tài sản gồm: 02 nhẫn vàng, 01 sợi dây chuyền bạc và mặt dây chuyền bằng bạc, rồi tẩu thoát về nhà trọ.

N cất giấu 02 nhẫn vàng trơn bằng kim loại màu vàng trọng lượng 01 chỉ/chiếc (nhẫn vàng có dòng chữ "MINH VŨ 1 chỉ 983% C) vào trong gối ôm trong phòng nơi N ở. Khi bị bắt giữ, N thừa nhận hành vi phạm tội và chỉ chỗ cất giấu tài sản trộm để Cơ quan điều tra thu giữ và đã giao trả cho người bị hại.

Riêng 02 túi màu đỏ và dây chuyền cùng mặt dây chuyền bằng bạc N để vào bọc đựng rác đem bỏ trước cổng nhà trọ, Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Quá trình tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của N thu giữ được thêm được những vật chứng như sau: 01 (một) xe môtô Honda Airblade, màu đỏ đen, biển số 65C1-026.50, số máy JF27E0856219, số khung RLHJF2703BY772713, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe gắn máy, số 65005411 tên Trần Minh Ty, 01 (một) hợp đồng mua bán xe số HD003524, 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo V2050 màu bạc, Imei: 868163057738558, 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng chưa rõ trọng lượng, 02 nhẫn bằng kim loại màu vàng đã được niêm phong và số tiền Việt Nam 3.000.000(ba triệu)đồng.

Tại Bản kết luận định giá số: 1221/KL-HĐĐG ngày 14/7/2022 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc UBND quận N kết luận: 02 nhẫn vàng trơn bằng kim loại màu vàng trọng lượng 01 chỉ/chiếc bên trong vàng nhân có dòng chữ "MINH VŨ 1 chỉ 983% C, trị giá tại sản trộm cắp là 10.400.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 135/CT-VKSNK ngày 13/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản đã nêu trong cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo N để xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Tang vật: giao trả các tài sản cá nhân đang thu giữ của Nguyễn Thanh N.

Bị cáo Nguyễn Thanh N thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát không tranh luận, thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo tha thiết xin Hội đồng xét xử xem xét bị cáo biết lỗi lầm và cam kết không tái phạm, mong Tòa giảm nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ, tang vật trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo N đập vỡ cửa kính phía trước nhà anh Q, N đi vào bên trong và cắt cầu dao điện để vô hiệu hóa camera an ninh và tìm tài sản lấy trộm là hành vi lén lút xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để trộm tài sản tổng giá trị 02 nhẫn vàng theo định giá là 10.400.000đồng, hành vi này đã cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, nên Viện kiểm sát truy tố là đúng quy định.

Nhận định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy Nguyễn Thanh N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo mới phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị trộm của người bị hại đã được nhận lại nên khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ để áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên tài sản đã nhận lại 02 nhẫn vàng trơn bằng kim loại màu vàng và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các tang vật thu giữ thêm tại chỗ ở của bị cáo là tài sản riêng nên cần giao trả lại theo quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173, Điều 47, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

- Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

- Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Nguyễn Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Thanh N 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù của Nguyễn Thanh N được tính từ ngày 09/7/2022

Xử lý vật chứng:

-Giao trả Nguyễn Thanh N: 01 (một) xe môtô Honda Airblade, màu đỏ đen, biển số 65C1-026.50, số máy JF27E0856219, số khung RLHJF2703BY772713, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe gắn máy, số 65005411 tên Trần Minh Ty, 01 (một) hợp đồng mua bán xe số HD003524, 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo V2050 màu bạc, Imei: 868163057738558, 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng chưa rõ trọng lượng, 02 nhẫn bằng kim loại màu vàng đã được niêm phong và số tiền Việt Nam 3.000.000(ba triệu) đồng.

-Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đôi dép nhựa màu trắng kem có chữ "Nice" trên quay dép; 01 (một) áo thun tay ngắn màu đen, 01 (một) quần thun vải màu đen, 01 (một) áo khoác tay dài màu đen có nón phía sau đã qua sử dụng; 01 cục đá xi măng

Về án phí hình sự sơ thẩm: Nguyễn Thanh N phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương đối với người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. *Nơi nhận:

Cỡ chữ