vanban.org

Bản án 146/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lư Thanh H.

Ông Lư Thanh H được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Lư Thị Thảo Ng, sinh ngày 18/10/2006. Bà Lê Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn Lư Thanh H-Lê Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lư Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-9-2022
V/v Thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

2. Bà Trần Thị Quế Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 341/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2022 về: “tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2022, quyết định hoãn phiên tòa số 180/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Lư Thanh H, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện C, tỉnh An Giang.(có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Lê Thị H, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 29/3/2022, quá trình tố tụng nguyên đơn ông Lư Thanh H trình bày:

Ông và bà Lê Thị H thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 164/2021/QĐST-HNGĐ ngày 01/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Theo nội dung quyết định số 164/2021/QĐST-HNGĐ ngày 01/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang thì ông Lư Thanh H được quyền nuôi con chung tên Lư Thiên Phát, sinh ngày 02/02/2012 còn bà Lê Thị H được quyền nuôi con chung tên Lư Thị Thảo Ng, sinh ngày 18/10/2006. Ông Lư Thành H và bà Lê Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn bà Lê Thị H bỏ nhà đi thường xuyên, không ở địa phương và không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu Lư Thị Thảo Ng như thỏa thuận. Cháu Thảo Ng về sống chung với ông từ thời gian đó đến nay để đi học tại trường trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông Lư Thanh H khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Thảo Ng.

* Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn bà Lê Thị H nhưng bà Hồng đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại biên bản ghi nhận ý kiến con chung ngày 04/8/2022 cháu Lư Thị Thảo Ng trình bày cháu sống với mẹ từ tháng 7/2021 đến tháng 9/2021 thì mẹ cháu bỏ đi xa không liên lạc được nên cháu về sống với cha từ tháng 9/2021. Nay cháu có nguyện vọng được sống với cha để ổn định việc học.

* Tại phiên tòa:

- Ông Lư Thanh H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Giao cháu Lư Thị Thảo Ng cho ông được trực tiếp nuôi dưỡng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Giao cháu Lư Thị Thảo Ng cho ông Lư Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Lê Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1 Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa ông Lư Thanh H và bà Lê Thị H là vụ án tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2 Thẩm quyền giải quyết: Căn cứ biên bản xác minh hộ khẩu ngày 22/8/2022 xác định được bà Lê Thị H đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.3 Về sự có mặt của đương sự: Nguyên đơn ông Lư Thanh H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Bị đơn bà Lê Thị H đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung tranh chấp:

2.1 Ông Lư Thanh H và bà Lê Thị H thuận tình ly hôn theo quyết định số 164/2021/QĐST-HNGĐ ngày 01/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Theo nội dung quyết định số 164/2021/QĐST-HNGĐ ngày 01/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang thì ông Lư Thanh H được quyền nuôi con chung tên Lư Thiên Phát, sinh ngày 02/02/2012 còn bà Lê Thị H được quyền nuôi con chung tên Lư Thị Thảo Ng, sinh ngày 18/10/2006. Ông Lư Thanh H và bà Lê Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ngày 29/3/2022 ông Lư Thanh H khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Lư Thị Thảo Ng.

2.2 Về điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà Lê Thị H: ông Lư Thanh H trình bày sau khi ly hôn bà Lê Thị H không trực tiếp nuôi cháu Lư Thị Thảo Ng mà bỏ nhà đi, không thường xuyên ở địa phương. Cháu Lư Thị Thảo Ng trình bày bà Lê Thị H đi làm ăn xa từ tháng 9/2021, không liên lạc được. Tòa án nhiều lần tống đạt Thông báo thụ lý, các Thông báo hòa giải và Quyết định xét xử nhưng Văn phòng thừa phát lại không tiến hành tống đạt được cho bà Hồng do bà Hồng thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Tại biên bản xác minh hộ khẩu ngày 22/8/2022 Công an xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang cung cấp thông tin bà Lê Thị H có đăng ký HKTT tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh An Giang nhưng hiện không sinh sống thường xuyên tại địa phương. Do đó có căn cứ xác định bà Lê Thị H vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con chung, không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2.3 Về điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của ông Lư Thanh H: sau khi ly hôn ông Lư Thanh H thực hiện tốt nghĩa vụ nuôi cháu Lư Thiên Phát, khi bà Hồng bỏ đi cháu Lư Thị Thảo Ng về sống với ông để đi học lớp 11 tại trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông Lư Thanh H có nơi cư trú ổn định tại xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, đủ điều kiện đảm bảo sự phát triển về mọi mặt cho cháu Thảo Ng.

2.4 Về nguyện vọng của con chung: cháu Thảo Ng trình bày sau khi cha mẹ ly hôn, cháu sống với mẹ từ tháng 7/2021 đến tháng 9/2021 thì mẹ bỏ đi làm ăn xa và không trực tiếp nuôi dưỡng cháu nên cháu về sống với cha là ông Lư Thanh H. Hiện nay cháu đang học lớp 11 trường PTTH Nguyễn Bỉnh Khiêm, do đó cháu có nguyện vọng được sống với cha để ổn định việc học.

2.5 Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Lư Thanh H không yêu cầu bà Hồng cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng của bà Hồng.

2.6 Từ những phân tích trên thấy rằng bà Lê Thị H không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lư Thị Thảo Ng. Căn cứ vào điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của ông Lư Thanh H và nguyện vọng của con chung có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lư Thanh H về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, việc giao cháu Thảo Ng cho ông Hùng trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo sự phát triển về mọi mặt, ổn định tâm lý và việc học của cháu Thảo Ng.

Về án phí sơ thẩm: do yêu cầu của ông Lư Thanh H được chấp nhận nên bà Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lư Thanh H.

1. Ông Lư Thanh H được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Lư Thị Thảo Ng, sinh ngày 18/10/2006.

Bà Lê Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Về án phí sơ thẩm:

- Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm

- Ông Lư Thanh H được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002616 ngày 04/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

3. Quyền kháng cáo: Ông Lư Thanh H và bà Lê Thị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ