- Tranh chấp gì? án hành chính — "“Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa NKK bà Vũ Thị Ch với NBK là UBND huyện Đông A, thành phố Hà Nội"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện là bà Vũ Thị Ch và giữ nguyên các quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 152/2021/HC-ST ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Căn cứ chính? Luật Khiếu nại; Quyết định số 80/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy định về khiếu nại…; Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND Về việc công bố bảng giá nhân…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 146/2022/HC-PT Ngày 04/05/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Hà;
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Đình Lực;
Ông Hoàng Văn Hạnh.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Thị Cẩm Ly, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 04 tháng 05 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử công khai vụ án hành chính thụ lý số 445/2021/TLPT-HC ngày 25 tháng 10 năm 2021 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 152/2021/HC-ST ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3501/2022 QĐ-PT ngày 20 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự sau:
* Người khởi kiện: Bà Vũ Thị Ch, sinh năm 1954; trú tại: thôn Hậu D, xã Kim Ch1, huyện Đông A, thành phố Hà Nội; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho người khởi kiện: Luật sư Hoàng Hữu S, luật sư Nguyễn Đăng H và luật sư Nguyễn Thị Huyền Tr - Văn phòng Luật sư Sơn H, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; đều có mặt.
* Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: số 66 - 68, đường Cao L, thị trấn Đông A, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Anh D1 - Chức vụ: Phó Chủ tịch; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Hoàng Anh T - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đông A; vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân xã Kim Ch1, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: xã Kim Ch1, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp theo pháp luật: Bà Lê Thị Vân H1 - Chức vụ: Chủ tịch; có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Anh Trần Công M, sinh năm 1978; vắng mặt.
3. Chị Lê Thị Hồng L1, sinh năm 1979; vắng mặt.
4. Cháu Trần Tiến V, sinh năm 2004; vắng mặt.
5. Anh Trần Văn Th, sinh năm 1986; vắng mặt.
Cùng trú tại: Đội 9, thôn Hậu D, xã Kim Ch1, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
6. Chị Trần Thị Th1, sinh năm 1982; trú tại: Đội 10, thôn Hậu D, xã Kim Ch1, huyện Đông A, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trình bày tại tòa, người khởi kiện bà Vũ Thị Ch trình bày:
Gia đình bà trực tiếp sản xuất trên diện tích đất nông nghiệp được giao theo Nghị định số 64/CP và đã được UBND huyện Đông A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R162585 ngày 01/06/2000 với tổng diện tích sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 1099,8m2. Quá trình sử dụng đến khi thực hiện dự án theo Quyết định số 1853/QĐ-UBND ngày 19/5/2008 dự án xây dựng Trường THPT Bắc Thăng Long, tổng diện tích đất bị thu hồi là 358,5m2 bằng 32,6% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp được giao theo Nghị định số 64, gia đình bà đã bị thu hồi cụ thể:
- Lần 1: Theo Quyết định số 1197/QĐ-UBND ngày 09/3/2006 dự án nhà ngoài hàng rào bị thu hồi 61,3m2.
- Lần 2: Theo Quyết định số 4347/QĐ-UB ngày 29/9/2006 dự án nhà ở công nhận diện tích bị thu hồi 108,8m2.
- Lần 3: Theo Quyết định số 1853/QĐ-UBND ngày 29/5/2008 dự án Trường THPT Bắc Thăng Long bị thu hồi 116,4m2.
Tổng diện tích đất bị thu hồi trong 03 dự án trên tính đến ngày 29/5/2008 dự án xây dựng Trường PTTH Bắc Thăng Long là 61,3m2 + 108,8m2 + 116,4m2 = 358,5m2 (chiếm 32,6%) tổng diện tích đất gia đình bà trực tiếp sản xuất nông nghiệp được Nhà nước giao theo Nghị định số 64/CP.
- Lần 4: Theo Quyết định số 4837/QĐ-UBND ngày 27/12/2012 thu hồi đất thực hiện dự án xây dựng Bệnh viện bệnh Nhiệt đới Trung ương, bị thu hồi 16m2, tiền bồi thường hỗ trợ đất 135.000đ/m2 là 2.180.000 đồng. Tiền hỗ trợ cây cối hoa màu 600.000 đồng. Tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm 10.800.000 đồng. Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt là 13.560.000 đồng.
Năm 2016, sau khi các hộ xã viên Đội 8, 9, 10 xã Kim Ch1 có danh sách được nhận đất ở theo Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 09/6/2008 của UBND thành phố Hà Nội, gia đình bà cùng nhiều hộ dân không có trong danh sách được giao đất theo quy định, nhiều lần gửi đơn đề nghị UBND xã Kim Ch1 và UBND huyện Đông A, UBND thành phố Hà Nội xem xét giải quyết.
Ngày 02/6/2020, hộ gia đình bà cùng tập thể các hộ gia đình Đội 9 nhận được Công văn số 1239/UBND-TNMT của UBND huyện Đông A trả lời kiến nghị của các hộ gia đình Đội 9, nội dung kết luận “Các hộ có tên trong đơn. ....., các hộ đã nhận tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 05 lần giá đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất tại dự án Xây dựng bệnh viện bệnh Nhiệt đới Trung ương, Dự án Đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu đô thị mới Kim Ch1 nên không thuộc đối tượng xem xét hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao 80m2 đất ở”.
Không đồng ý Văn bản số 1239, tập thể các hộ gia đình đã khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện Đông A.
Ngày 23/10/2020, hộ gia đình bà cùng một số hộ dân Đội 9 nhận được Quyết định số 5831 ngày 11/10/2020 của UBND huyện Đông A về việc giải quyết khiếu nại của một số công dân Đội 9, trong đó có hộ gia đình bà, nội dung giữ nguyên Văn bản số 1239/UBND-TNMT ngày 02/6/2020 của UBND huyện Đông A.
Ngày 8/10/2020, bà Vũ Thị Ch làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội yêu cầu hủy: Văn bản số 1239/QĐ-TNMT ngày 2/6/2020 của UBND huyện Đông A; Quyết định số 5831/QĐ-CTUB ngày 11/9/2020 Chủ tịch UBND huyện Đông A về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu). Buộc UBND huyện Đông A thực hiện Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 9/6/2008 của UBND thành phố Hà Nội về việc bồi thường bằng hình thức giao đất ở theo quyết định nêu trên cho gia đình bà theo đúng thời điểm, đúng chính sách pháp luật.
* Người khởi kiện UBND và Chủ tịch UBND huyện Đông A trình bày:
UBND huyện Đông A nhận được đơn kiến nghị của bà Vũ Thị Ch và một số công dân Đội 9, thôn Hậu D, xã Kim Ch1 đề nghị bồi thường, hỗ trợ bằng hình thức giao đất dịch vụ (đất ở) cho các hộ gia đình theo Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 09/6/2008, Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội.
Ngày 02/6/2020, UBND huyện Đông A có Văn bản số 1239/UBND-TNMT về việc trả lời kiến nghị của bà Phan Thị Xây và một số công dân Đội 9, thôn Hậu D, xã Kim Ch1 về nội dung bồi thường, hỗ trợ bằng hình thức giao đất dịch vụ (đất ở) cho các hộ gia đình theo Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 09/6/2008, Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội, theo đó các hộ đã nhận tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 05 lần giá đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất tại dự án Xây dựng Bệnh viện bệnh nhiệt đới Trung ương, Dự án Đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu đô thị mới Kim Ch1 nên không thuộc đối tượng xem xét hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao 80m2 đất ở.
Theo đó, hộ gia đình bà Ch đã nhận tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 05 lần giá đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất tại dự án Xây dựng Bệnh viện bệnh nhiệt đới Trung ương là 16m2 theo phương án được UBND huyện Đông A phê duyệt tại Quyết định số 4912/QĐ-UBND ngày 27/12/2012 và tại dự án Dự án Đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu đô thị mới Kim Ch1 là 192m2 theo phương án được UBND huyện Đông A phê duyệt tại Quyết định số 3387/QĐ-UBND ngày 19/10/2015.
Không đồng ý với Văn bản số 1239/UBND-TNMT của UBND huyện Đông A, bà Phan Thị Xây và một số công dân Đội 9 thôn Hậu D, xã Kim Ch1 tiếp tục khiếu nại văn bản nêu trên.
Ngày 18/6/2020, Chủ tịch UBND huyện Đông A có Thông báo số 1323/TB CTUB về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu), Quyết định số 3159/QĐ-CTUB về việc ủy quyền giải quyết khiếu nại (lần đầu) đối với một số công dân Đội 9, thôn Hậu D, xã Kim Ch1, huyện Đông A, thành phố Hà Nội. Ngày 23/6/2020, Chủ tịch UBND huyện Đông A có Quyết định số 3210/QĐ-CTUB về việc giao nhiệm vụ xác minh đơn khiếu nại (lần đầu) của một số công dân Đội 9, thôn Hậu D, xã Kim Ch1, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
Ngày 19/8/2020, Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với UBND xã Kim Ch1 và các đơn vị có liên quan tổ chức buổi đối thoại với các hộ để xác minh, làm rõ nội dung khiếu nại Văn bản số 1239/UBND-TNMT ngày 02/6/2020 của UBND huyện Đông A.
Ngày 19/8/2020, UBND huyện Đông A có Quyết định số 5074/QĐ-CTUB về việc gia hạn thời gian xác minh đơn khiếu nại của một số công dân Đội 9, thôn Hậu D, xã Kim Ch1, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
Ngày 10/9/2020 UBND-Hội đồng BTHTT&TĐC phối hợp với UBND xã Kim Ch1 và các đơn vị, tổ chức có liên quan tổ chức buổi đối thoại với các hộ, thông qua dự thảo báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại (lần đầu) của một số công dân Đội 9, thôn Hậu D, xã Kim Ch1, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
Ngày 11/9/2020, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đông A có Văn bản số 341/BC-TNMT báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại (lần đầu) của một số công dân Đội 9 xã Kim Ch1, huyện Đông A đối với Văn bản số 1239/UBND TNMT ngày 02/6/2020 của UBND huyện Đông A.
Ngày 11/9/2020 Chủ tịch UBND huyện Đông A có Quyết định số 5831/QĐ-CTUB về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của một số công dân Đội 9 xã Kim Ch1, huyện Đông A đối với Văn bản số 1239/UBND-TNMT ngày 02/6/2020 của UBND huyện Đông A, theo đó: Việc một số công dân Đội 9, thôn Hậu D, xã Kim Ch1, huyện Đông A, thành phố Hà Nội khiếu nại Văn bản số 1239/UBND-TNMT ngày 02/6/2020 của UBND huyện Đông A là không có cơ sở, giữ nguyên nội dung Văn bản số 1239/UBND-TNMT ngày 02/6/2020 của UBND huyện Đông A.
Căn cứ các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, quy định về giải quyết khiếu nại hành chính, UBND huyện Đông A ban hành các quyết định nêu trên thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã Kim Ch1 trình bày:
Bà Vũ Thị Ch và một số công dân Đội 9 thôn Hậu D, xã Kim Ch1 đề nghị bồi thường, hỗ trợ bằng hình thức giao đất dịch vụ (đất ở) cho hộ gia đình theo Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 09/6/2008, Quyết định số 18/2008/QD-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội. Hộ gia đình bà Ch đã nhận tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 05 lần giá đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất tại dự án Xây dựng Bệnh viện bệnh nhiệt đới Trung ương là 16m2 theo phương án được UBND huyện Đông A phê duyệt tại Quyết định số 4912/QĐ UBND ngày 27/12/2012 và tại Dự án Đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu đô thị mới Kim Ch1 là 192m2 theo phương án được UBND huyện Đông A phê duyệt tại Quyết định số 3387/QĐ-UBND ngày 19/10/2015. Các hộ đã nhận tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 05 lần giá đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất tại dự án Xây dựng Bệnh viện bệnh nhiệt đới Trung ương, Dự án Đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu đô thị mới Kim Ch1 nên không thuộc đối tượng xem xét hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao 80m2 đất ở.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Công M, chị Lê Thị Hồng L1, cháu Trần Tiến V, anh Trần Văn Th, chị Trần Thị Th1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Ch.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 152/2021/HC-ST ngày 30/6/2021, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 116, khoản 2 Điều 173, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 204, Điều 206, Điều 348 Bộ luật Tố tụng hành chính; Luật đất đai 2013; Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Điều 18, 21, 27, 28, 29 Luật khiếu nại năm 2011; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại; Luật Phí và Lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Ch gồm: Yêu cầu hủy Văn bản số 1239/QĐ-TNMT ngày 02/6/2020 của UBND huyện Đông A, hủy Quyết định số 5831/QĐ-CTUB ngày 11/9/2020 của Chủ tịch UBND huyện Đông A về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu); Yêu cầu buộc UBND huyện Đông A thực hiện Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 9/6/2008 của UBND thành phố Hà Nội về việc bồi thường bằng hình thức giao đất ở cho gia đình bà Ch theo đúng thời điểm, đúng chính sách pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/7/2021, người khởi kiện là bà Vũ Thị Ch có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện vẫn giữ yêu cầu khởi kiện đề nghị tòa án hủy Văn bản số 1239/QĐ-TNMT ngày 02/6/2020 của UBND huyện Đông A và Quyết định số 5831/QĐ-CTUB ngày 11/9/2020 của Chủ tịch UBND huyện Đông A; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo buộc chủ đầu tư và UBND huyện Đông A ra quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao đất ở cho gia đình bà Ch theo chính sách được quy định tại Quyết định số 33 của UBND thành phố Hà Nội. Gia đình bà Ch bị Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp bằng 32,6% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp được giao theo Nghị định số 64 trong giai đoạn năm 2006-2008.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội. Quá trình tham gia tố tụng của các đương sự, quá trình tiến hành tố tụng của thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 3; Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, Luật đất đai 2013; Luật tổ chức chính quyền địa phương, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Nghị quyết số 326/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016; khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Ch, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bà Vũ Thị Ch là người cao tuổi nên không phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Vũ Thị Ch nộp trong thời hạn và đúng với quy định tại Điều 205, Điều 206 Luật tố tụng hành chính nên hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết là đúng pháp luật.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, đại diện người bị kiện Chủ tịch và UBND huyện Đông A, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã Kim Ch1, các thành viên trong hộ gia đình bà Vũ Thị Ch có đơn xin xử vắng mặt. Căn cứ Điều 157, 225 Luật tố tụng hành chính, Tòa án xét xử vắng mặt người bị kiện Chủ tịch và UBND huyện Đông A, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã Kim Ch1, các thành viên trong hộ gia đình bà Vũ Thị Ch.
Xét nội dung đơn kháng cáo của Vũ Thị Ch đề nghị được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng hình thức giao đất dịch vụ (đất ở) cho gia đình bà theo Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 09/6/2008 của UBND thành phố Hà Nội và Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội; yêu cầu hủy Văn bản số 1239/QĐ-TNMT ngày 02/6/2020 của UBND huyện Đông A và Quyết định số 5831/QĐ-CTUB ngày 11/9/2020 của Chủ tịch UBND huyện Đông A, thấy rằng:
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành:
Căn cứ Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Căn cứ Luật Khiếu nại năm 2011; Căn cứ Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật khiếu nại; Căn cứ Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Căn cứ Quyết định số 80/2014/QĐ-UBND ngày 14/11/2014 của UBND thành phố Hà Nội ban hành quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại; Căn cứ Quyết định số 3159/QĐ-CTUB ngày 18/6/2020 của Chủ tịch UBND huyện Đông A về việc ủy quyền giải quyết khiếu nại, (lần đầu); Căn cứ đơn của bà Phan Thị Xây và một số công dân thôn Hậu D có đơn kiến nghị đến UBND huyện Đông A đề nghị được hỗ trợ bằng hình thức giao đất dịch vụ (đất ở) cho các hộ dân theo Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 09/06/2008 của UBND thành phố Hà Nội và Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội; Căn cứ Báo cáo số 128/BC-UBND ngày 15/8/2019 của UBND xã Kim Ch1 thì UBND huyện Đông A ban hành Văn bản số 1239/QĐ-TNMT và Chủ tịch UBND huyện Đông A ban hành Quyết định số 5831/QĐ-CTUB là đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền.
Về chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao đất ở:
Nguồn gốc đất của gia đình bà Ch là đất nông nghiệp được giao theo Nghị định số 64/CP với diện tích 1.099,8m2, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tính đến ngày 29/5/2008, gia đình bà đã bị thu hồi 03 lần, tổng diện tích bị thu hồi là 61,3m2 + 180,8m2 + 116,4m2 = 358,5m2 (chiếm 32,6%), đến năm 2015 diện tích đất còn lại tiếp tục bị thu hồi thực hiện dự án Bệnh viện bệnh Nhiệt đới Trung ương là 16m2. Quá trình sử dụng hộ bà Ch bị thu hồi đất của nhiều dự án và đã nhận tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp khi thu hồi đất cụ thể:
- Tại Dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện bệnh nhiệt đới Trung ương, hộ gia đình bà Ch bị thu hồi 16m2 đất nông nghiệp. Quyết định số 4912/QĐ-UBND ngày 27/12/2012 của UBND huyện Đông A về phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ kèm theo phương án, tổng số tiền hộ bà Ch được bồi thường, hỗ trợ là 13.560.000 đồng.
- Tại Dự án xây dựng nhà ở cho công nhân và người có thu nhập thấp hộ gia đình bà Ch bị thu hồi 192m2 đất nông nghiệp. Theo Quyết định số 3387/QĐ UBND ngày 19/10/2015 của UBND huyện Đông A về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ kèm theo phương án, tổng số tiền hộ bà Ch được bồi thường, hỗ trợ là 155.520.000 đồng.
Tại Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 09/6/2008 và Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội quy định chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao đất ở áp dụng đối với trường hợp hộ gia đình bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao theo Nghị định số 64/CP, có phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được phê duyệt trong giai đoạn từ ngày 01/01/2018 đến ngày 29/9/2009.
Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29/9/2009 của UBND thành phố Hà Nội (có hiệu lực từ ngày 01/10/2009 và thay thế Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008), chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm đã được thực hiện bằng chi trả tiền một lần (05 lần giá đất nông nghiệp) và không còn chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao 80m2 đất ở.
Việc lập, phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ GPMB đối với các hộ thuộc diện đủ điều kiện giao đất theo quy định nhưng chưa được giao đất do chưa có quỹ đất sẽ có hai hình thức nhận hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm diện tích đất nông nghiệp tiếp tục bị thu hồi bằng tiền (05 lần giá đất nông nghiệp) hoặc chờ để được nhận 80m2 đất ở.
Điều 40, Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND quy định:
+ Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền để chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm băng 05 lần giá đất nông nghiệp quy định đối với diện tích đất nông nghiệp thực tế bị thu hồi.
+ Hộ gia đình, cá nhân đã được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng một trong các hình thức: bằng tiền một lần, đăng ký mua căn hộ chung cư, đăng ký được giao đất và đã được UBND cấp huyện xét duyệt theo quy định tại Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 09/6/2008 và Quyết định số 18/2008/QĐ UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội thì không được hỗ trợ bằng tiền để chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm nêu trên.
Về nguyên tắc giao đất ở hoặc bán nhà ở hoặc bồi thường bằng tiền; hạn mức diện tích giao đất ở, bán nhà ở căn hộ; khoản 2 Điều 2 Quyết định số 33/2008 của UBND thành phố Hà Nội quy định:
2. Hạn mức giao đất ở, bán nhà ở
a) Căn cứ quỹ đất thực tế của thành phố, hạn mức giao đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân tại khu vực các huyện áp dụng theo quy định tại Quyết định số 26/2008/QĐ-UBND ngày 28/5/2008 của UBND thành phố, cụ thể như sau:
+ Thị trấn và các xã ven độ: 60m2,
+ Xã đồng bằng: 80m2,
+ Xã trung du: 120m2.
“c) Đối với hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi diện tích đất nông nghiệp nhỏ hơn hạn mức tại khoản a và nhỏ hơn 40m2 đối với các phường, nhưng đó là thửa đất cuối cùng của hộ gia đình, cá nhân được giao và trước đó đã nhiều lần bị thu hồi diện tích đất nông nghiệp được giao để thực hiện các dự án thì được bồi thường diện tích đất ở đủ theo hạn mức (đối với các huyện) hoặc được mua 01 căn hộ không quá 80m2 (đối với các quận). ...”.
Tại thời điểm phê duyệt phương án trong giai đoạn 2008-2009 trong quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không phê duyệt nội dung giao đất dịch vụ hoặc đất ở cho hộ gia đình bà Ch, đồng thời UBND huyện Đông A cũng không có thông báo bằng văn bản cam kết có giao đất dịch vụ, đất ở bằng 80m2. UBND huyện đã áp dụng chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng 05 lần giá đất nông nghiệp tại các thời điểm thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường của các dự án theo quy định. Đến nay một số hộ dân ở thôn Hậu D nói chung trong đó có hộ gia đình bà Ch đã nhận tiền bồi thường hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất tại tất cả các dự án trong đó có Dự án Xây dựng Bệnh viện bệnh nhiệt đới Trung ương và Dự án Đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp nên không thuộc đối tượng xem xét hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng hình thức giao 80m2 đất ở.
Sau khi rà soát lại, căn cứ Tờ trình số 168/TTr-UBND ngày 04/12/2020 của xã Kim Chung, Tờ trình số 04 và số 05/TTr-HĐGĐ ngày 17/6/2021 của Hội đồng xét giao đất ở, ngày 17/6/2021 ngày 21/6/2021 UBND huyện Đông A đã ban hành Quyết số 5841/QĐ-UBND ngày 21/6/2021 của UBND huyện Đông A về việc điều chỉnh Quyết định số 2422/QĐ-UBND ngày 29/5/2018 của UBND huyện Đông A, theo đó điều chỉnh từ 21 hộ gia đình đủ điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng giao 80m2 đất ở nay điều chỉnh giảm còn 18 hộ đủ điều kiện được hưởng chính sách này. Quyết số 5899/QĐ-UBND ngày 22/6/2021 của UBND huyện Đông A về việc điều chỉnh Quyết định số 4969/QĐ-UBND ngày 23/7/2018 của UBND huyện Đông A, theo đó điều chỉnh từ 10 hộ gia đình đủ điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng giao 80m2 đất ở nay điều chỉnh giảm còn 6 hộ đủ điều kiện được hưởng chính sách này.
Lý do điều chỉnh: 07 hộ gia đình bị điều chỉnh sau khi rà soát đã xác định họ đã nhận tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 05 lần giá đất nông nghiệp vào các năm 2015, 2016 tại dự án Đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân và người có thu nhập thấp nhưng tại Giấy xác nhận phục vụ công tác xét giao đất ở cho các cá nhân bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao, UBND xã Kim Ch1 xác nhận các hộ này chưa nhận hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng 05 lần giá đất nông nghiệp sau thời điểm 30/9/2009.
Do đó, bà Vũ Thị Ch đề nghị được trả lại tiền để nhận đất ở (đất dịch vụ) không được chấp nhận.
Từ các phân tích trên thấy Văn bản số 1239/UBND-TNMT ngày 02/6/2020 của UBND huyện Đông A và Quyết định số 5831/QĐ-CTUB ngày 11/9/2020 của Chủ tịch UBND huyện Đông A đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Ch là có cơ sở. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Ch, giữ nguyên các quyết định của bản án hành chính sơ thẩm.
Về án phí: Bà Vũ Thị Ch sinh năm 1954. Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bà Vũ Thị Ch không phải nộp tiền án phí hành chính phúc thẩm.
. Các quyết định khác của Bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241; khoản 1 Điều 349 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện là bà Vũ Thị Ch và giữ nguyên các quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 152/2021/HC-ST ngày 30/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
2. Về án phí: Bà Vũ Thị Ch không phải nộp án phí hành chính phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND Tp Hà Nội; - VKSND Tp Hà Nội; - Cục THADS Tp Hà Nội; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Hà |