vanban.org

Bản án 146/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Đình H là vợ chồng.

Về án phí: Bà Lê Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 4916 ngày 12/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê THị Đ - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Đình H là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY XUYÊN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2021/HNGĐ-ST.
Ngày: 14/7/2021.
V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Đình Lục.

2. Bà Hứa Thị Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên tham gia phiên toà: Ông Lê Kim Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2021/QĐXX-ST ngày 10/6/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 13/2021/HNGĐ-ST ngày 25/6/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1975;

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1973;

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã Duy H, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

(Bà Đ có mặt, ông H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12/4/2021, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn là bà Lê Thị Đ trình bày: Bà và ông Nguyễn Đình H tổ chức đám cưới và chung sống với nhau từ năm 1991 nhưng không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống và sinh được 2 người con nhưg thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do ông H uống rượu say về chửi bới, đánh đập bà Đ. Ông H còn đánh bạc gây nợ nần. Bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Đình Duy H1, sinh năm 1992 và Nguyễn Hải N, sinh năm 1994. Các con đã trưởng thành nên bà không yêu cùa Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Đình H cố tình trốn tránh, không có văn bản trả lời ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các phiên tòa mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Do ông H không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến nay, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật qui định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không nộp bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia phiên tòa, điều đó chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm. Do bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nên HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt ông H là có căn cứ. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đ và ông H có tổ chức đám cưới và chung sống với nhau từ năm 1991 nhưng không đăng ký kết hôn nên bà Đ và ông H không phải là hợp chồng hợp pháp. Nay bà Đ xin ly hôn, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận ông Nguyễn Đình H và bà Lê Thị Đ là vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên nhận định:

Về thủ tục tố tụng: ông Nguyễn Đình H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo qui định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Đình H đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại điều 5, 6 và 7 Luật hôn nhân gia đình năm 1987 nhưng ông bà không đăng ký kết hôn theo quy định. Bà Đ và ông H tổ chức đám cưới và chung sống với nhau từ năm 1991. Do Bà Đ và ông H không đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân của bà Đ và ông H không được pháp luật thừa nhận. Trong quá trình chung sống, giữa bà Đ và ông H thường phát sinh mâu thuẫn nên bà Đ xin ly hôn ông H. Do đó HĐXX không công nhận ông Nguyễn Đình H và bà Lê Thị Đ là vợ chồng.

Về con chung: Bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Đình H 02 con chung tên Nguyễn Đình Duy H1, sinh năm 1992 và Nguyễn Hải N, sinh năm 1994. Các con đã trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Lê Thị Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, 14, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Đình H là vợ chồng.

Về án phí: Bà Lê Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 4916 ngày 12/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Xuyên.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/7/2021).

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Nam

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện Duy Xuyên

- CCTHADS huyện Duy Xuyên.

- Các đương sự.

- Lưu HS –AV.

Võ Thị Minh Phượng

Cỡ chữ