vanban.org

Bản án 146/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Võ Thanh H đối với bị đơn chị Nguyễn Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Thanh H đƣợc ly hôn với chị Nguyễn Thị N (Giấy chứng nhận kết hôn số 159, ngày 21/10/2002 do Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng cấp). Về con chung: Giao con chung tên Võ Hồng N, sinh ngày 14/8/2003 cho anh Võ Thanh H trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc. Ghi nh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thanh H - Nguyễn Thị N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Võ Thanh H đối với bị đơn chị Nguyễn Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 146/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 12-11-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ngọc.

2. Ông Phan Văn Cƣờng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đ i di n Vi n i m s t nh n d n th x D An, t nh nh Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Ki m sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 930/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 157/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2018, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Anh Võ Thanh H, sinh năm 1971; thƣờng trú: Số 9/2, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984; thƣờng trú: Số 9/2, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. (Vắng mặt)

3. Người làm chứng: Bà Phan Thị D, sinh năm 1936; thƣờng trú: Số 9/2, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/8/2018 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Võ Thanh H đã trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị Nguyễn Thị N tìm hi u nhau khoảng 01 năm thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 159, ngày 21/10/2002.

Sau khi kết hôn, anh H và chị N sinh sống tại số 9/2, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Đến tháng 5/2016, do vợ chồng mâu thuẫn nên chị N dọn về nhà ba mẹ sinh sống nhƣng thỉnh thoảng có về thăm con, anh H cùng với con vẫn sinh sống ở địa chỉ trên và anh chị sống ly thân cho đến nay.

Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 5/2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị tính tình không hợp, bất đồng quan đi m sống, vợ chồng thƣờng xuyên cãi vã, anh H phát hiện chị N không chung thủy, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, hiện nay mỗi ngƣời có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không th hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên anh yêu cầu đƣợc ly hôn với chị N.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh H và chị N có 01 con chung là Võ Hồng N, sinh ngày 14/8/2003. Sau khi ly hôn, anh H yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu chị N thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung và nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình: Anh H chịu theo quy định pháp luật.

- Quá trình tố tụng, bị đơn chị Nguyễn Thị N đã đƣợc Tòa án thông báo thụ lý vụ án, triệu tập làm việc đ làm bản tự khai, cung cấp chứng cứ vào ngày 21/9/2018; tham gia phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 08/10/2018; tham gia phiên tòa vào các ngày 25/10/2018 và ngày 12/11/2018, nhƣng chị N vắng mặt không có lý do.

- Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An ngày 20/9/2018 tại UBND phƣờng Đ, thị xã D th hiện: Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng Đ không tiếp nhận thông tin từ cơ sở phản ánh về mâu thuẫn vợ chồng và về vấn đề chăm sóc, nuôi dạy con chung giữa anh Võ Thanh H và chị Nguyễn Thị N, đồng thời không tiếp nhận đơn yêu cầu hòa giải về quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị N, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

- Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An ngày 02/10/2018 tại Ban điều hành khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D th hiện: Anh Võ Thanh H và vợ là chị Nguyễn Thị N, cùng thƣờng trú số 9/2, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Quá trình chung sống anh chị đôi lúc cũng cãi vã nhƣng không yêu cầu đại diện khu phố hòa giải mâu thuẫn. Tuy nhiên, đến khoảng tháng 5/2016, do vợ chồng mâu thuẫn nên chị N dọn về nhà ba mẹ sống, thỉnh thoảng có về thăm con nhƣng thời gian sau này không thấy về nữa, chị N vẫn còn trong hộ khẩu nhà anh H. Sau đó, anh H có báo cho khu phố biết việc chị N làm ăn thua lỗ mắc nợ bỏ đi, có ngƣời đến đòi nợ gia đình anh. Nay anh H làm đơn xin ly hôn chị N, đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật đ giải quyết vụ án.

- Tại bản tự khai ngày 05/9/2018, con chung của anh H và chị N là Võ Hồng N, sinh ngày 14/8/2003 có ý kiến: Tôi là con ruột của ba Võ Thanh H và mẹ Nguyễn Thị N. Hiện nay tôi đang sống với ba. Nếu ba mẹ tôi ly hôn, tôi xin đƣợc sống với ba đ ba chăm sóc và lo cho tôi đi học, ý kiến của tôi là hoàn toàn tự nguyện.

- Lời khai của ngƣời làm chứng bà Phan Thị D: Tôi là mẹ ruột của Võ Thanh H. Năm 2002, con trai tôi kết hôn với con dâu tôi là Nguyễn Thị N, sau khi kết hôn con dâu tôi nhập hộ khẩu và sống với gia đình tôi tại số 9/2, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Đến năm 2016, vợ chồng con tôi mâu thuẫn nên con dâu tôi dọn về nhà cha mẹ đẻ sinh sống, thỉnh thoảng có về thăm con nhƣng thời gian sau này không thấy về, hiện nay không biết sống ở đâu. Con dâu tôi sinh đƣợc 01 cháu là Võ Hồng N, từ nhỏ đến lớn sống với gia đình tôi. Hiện tại con tôi làm thuê, thu nhập cũng vừa đủ đ lo cho con, đôi lúc khó khăn nên gia đình cũng hỗ trợ thêm. Quá trình chung sống vợ chồng con tôi ban đầu cũng hạnh phúc, thời gian sau này phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng cũng hay cãi vã, con dâu tôi bỏ nhà đi sống với ngƣời khác, không về phụ con tôi chăm sóc, lo cho con ăn học. Hiện tại cả hai sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho con tôi đƣợc ly hôn với con dâu tôi.

- Ý kiến của đại diện Viện Ki m sát nhân dân thị xã Dĩ An tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn anh Võ Thanh H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị N đƣợc triệu tập hợp lệ 02 lần nhƣng vắng mặt không tham gia phiên tòa, căn cứ đi m b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, anh H và chị N có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng mâu thuẫn từ tháng 5/2016 và đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Những mâu thuẫn anh H trình bày phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng. Chị N cũng không đến Tòa án làm việc đ trình bày đối với yêu cầu xin ly hôn của anh H. Do đó, anh H khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với chị N là có căn cứ. Về con chung, anh H có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi con chung và tự nguyện không yêu cầu chị N cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy, anh H có thu nhập đảm bảo việc nuôi con nên yêu cầu này của anh là phù hợp. Thực tế từ khi ly thân chị N cũng không quan tâm, phụ giúp anh H nuôi con, anh H là ngƣời trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Anh Võ Thanh H khởi kiện yêu cầu đƣợc ly hôn với chị Nguyễn Thị N và đƣợc nuôi con chung nên đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Võ Thanh H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị N đƣợc triệu tập hợp lệ 02 lần nhƣng vắng mặt không tham gia phiên tòa, căn cứ đi m b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Thanh H và chị Nguyễn Thị N là vợ chồng, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 159, ngày 21/10/2002 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Anh H xác định trong quá trình chung sống với chị N xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, không th tiếp tục chung sống với nhau, thực tế anh H và chị N đã sống ly thân từ tháng 5/2016 cho đến nay. Anh H trình bày những mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng và kết quả xác minh tại Ban điều hành khu phố T, phƣờng Đ. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, đ đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải tôn trọng, thƣơng yêu, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát tri n về mọi mặt. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập đến làm việc nhƣng chị N đều vắng mặt không rõ lý do, cũng không đến tham gia phiên hòa giải đ hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, chị N cũng không có văn bản th hiện thiện chí đƣa ra phƣơng pháp hàn gắn mối quan hệ giữa chị và anh H. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của anh H và chị N phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Nay anh H yêu cầu đƣợc ly hôn với chị N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Anh Võ Thanh H và chị Nguyễn Thị N có 01 con chung là Võ Hồng N, sinh ngày 14/8/2003. Anh H yêu cầu sau khi ly hôn đƣợc nuôi dƣỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu chị N cấp dƣỡng nuôi con. Chị N không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của anh H. Từ khi ly thân đến nay, chị N không quan tâm, không phụ giúp tiền bạc đ nuôi con, một mình anh H chăm sóc cho con, lo việc học hành. Hiện nay anh H làm thuê, thu nhập của anh đảm bảo lo cho con, do đó yêu cầu của anh H đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là phù hợp với nguyện vọng của con, có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án có th quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Anh Võ Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện Ki m sát nhân dân thị xã Dĩ An đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí hôn nhân gia đình: Anh Võ Thanh H phải chịu án phí theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, đi m b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ đi m a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Võ Thanh H đối với bị đơn chị Nguyễn Thị N.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Thanh H đƣợc ly hôn với chị Nguyễn Thị N (Giấy chứng nhận kết hôn số 159, ngày 21/10/2002 do Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng cấp).

- Về con chung: Giao con chung tên Võ Hồng N, sinh ngày 14/8/2003 cho anh Võ Thanh H trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Võ Thanh H không yêu cầu chị Nguyễn Thị N cấp dƣỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh Võ Thanh H và chị Nguyễn Thị N có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục đối với con chung chƣa thành niên; không ai đƣợc lạm dụng việc thăm nom cản trở các quyền này. Vì lợi ích hợp pháp của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có th quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung, nợ chung về tài sản: Anh Võ Thanh H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân gia đình: Anh Võ Thanh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đƣợc khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020042 ngày 28/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày k từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ