vanban.org

Bản án 146/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Văn Q. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2018/HNGĐ - ST
Ngày: 26-9-2018
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Ngẫu

Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đường Hạc Vương Dung – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 531/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991.

Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ tạm trú: Tổ A, Khu C, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1996.

Hộ khẩu thường trú: Tổ D, khu H, thị trấn K, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ tạm trú: Tổ A, Khu C, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Chị H và anh Q vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/7/2018 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Q chung sống với nhau từ năm 2015 đến năm 2016 mới đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện L cấp giấy chứng nhận kết hôn số 187 ngày 19 tháng 9 năm 2016. Việc kết hôn do chị và anh Q đều tự nguyện. Nay chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q. Nguyên nhân chị H yêu cầu ly hôn là do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên bất đồng quan điểm sống và anh Q không lo làm ăn. Chị và anh Q đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2018 cho đến nay.

Về con chung: Chị H và anh Q có 01 người con chung là cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/9/2016. Nếu ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật

Lời khai của anh Nguyễn Văn Q tại hồ sơ thể hiện: Anh và chị H chung sống với nhau từ năm 2015 đến năm 2016 mới đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn K, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 19 tháng 9 năm 2016, việc kết hôn do cả hai tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc nguyên nhân chủ yếu là do tính tình không hợp nhau. Nay anh Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên chị H xin ly hôn, anh Q đồng ý thuận tình.

Về con chung: Anh Q khai giữa anh và chị H có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/9/2016. Nếu ly hôn, anh đồng ý giao cháu B cho chị H nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Q khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Q đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H; giao con chung là cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/9/2016 cho chị H nuôi dưỡng, chị H nuôi con không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, bị đơn anh Nguyễn Văn Q có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Q.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Q xây dựng gia đình với nhau năm 2016 có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 187 ngày 19 tháng 9 năm 2016 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị H xin ly hôn, anh Q đồng ý thuận tình. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Q là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Chị H và anh Q có 01 người con chung là cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/9/2016. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, anh Q cũng đồng ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu B cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị H nuôi con không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 174, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9; Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Văn Q.

Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.

Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/9/2016 cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng. Tạm thời anh Q không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Q được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 006512 ngày 17 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Chị H và anh Q được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ