vanban.org

Bản án 146/2018/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 04/10/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác háng cáo của người hởi iện b Phạm Thị H, bà Nguyễn Thị M, bà Phạm Thị D, bà Phạm Thị Q, ông Phạm Văn C, ông Phạm Văn P, ông Phạm Văn T v giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng hoản 1 Điều 30, hoản 4 Điều 32, Điều 116, hoản 2 Điều 157, hoản 1, hoản 3 Điều 158, đi m a hoản 2 Điều 193, Điều 194 Luật tố tụng h nh chính; hoản 1 Điều 2 Luật đ t đai năm 1993; đi m b hoản 1 Điều 106 Luật đ t đai năm 2013; Điều 144 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004; Điều 21 Nghị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm — đang xem Bản án 146/2018/HC-PT Tuyên án 04/10/2018
Giám đốc thẩm Bản án 10/2022/HC-GĐT Tuyên án 25/04/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai"
  • Tòa quyết gì? Bác háng cáo của người hởi iện b Phạm Thị H, bà Nguyễn Thị M, bà Phạm Thị D, bà Phạm Thị Q, ông Phạm Văn C, ông Phạm Văn P, ông Phạm Văn T v giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP Về thi hành Luật Đất đai; Điều 193 Luật tố tụng h nh chính; Điều 194 Luật tố tụng h nh chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146 /2018/HC-PT
Ngày: 04/10/2018
V/v: “Khiếu kiện quyết định giải
quyết khiếu nại trong lĩnh vực
quản lý đất đai”.

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- h nh h n i đ ng t

h th g

:

Thẩm phán - h t a phiên tòa Ông Vũ Thanh Liêm

ác Thẩm phán

Ông Phạm Tồn

Bà Lê Thúy Cầu

- h

hiên t a: Bà Hoàng Hải An - Thư Tòa án nhân dân c p cao tại Đ N ng.

- i di n i n i s t nh n d n

a t i N ng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định - i m sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân c p cao tại Đ N ng xét xử phúc thẩm công hai vụ án hành chính thụ l số: 182/2018/TLPT-HC ngày 04/7/2018 về việc “Khiếu iện quyết định giải quyết hiếu nại trong lĩnh vực quản l đ t đai”. Do Bản án h nh chính sơ thẩm số 16/2018/HC-ST ngày 18 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắ Lắ có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182a/2018/QĐ-PT ngày 18 tháng 09 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện:

1.1. Bà Phạm Thị H; Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

1.2. Bà Nguyễn Thị M; Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắ Lắ . Vắng mặt.

1.3. Bà Phạm Thị D; Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắ Lắ . Vắng mặt.

1.4. Bà Phạm Thị Q; Địa chỉ: Thôn 12, xã T, huyện B, tỉnh Đắ Lắ . Vắng mặt.

1.5. Ông Phạm Văn C ; Địa chỉ:, xã E, huyện B, tỉnh Đắ Lắ . Vắng mặt.

1.6. Ông Phạm Văn P (Con ông Phạm Văn H đã chết); Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắ Lắ . Có mặt.

1.7. Ông Phạm Văn T; Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắ Lắ . Vắng mặt.

Người đại diện theo y quyền c a bà H, bà M, bà D, bà Q, ông , ông P và ông T: Ông Đ o Đình H1; Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắ Lắ . (Văn bản ủy quyền ng y 21/11/2017). Ông H1 có mặt.

Người bảo vệ quyền lợi cho những người hởi iện: Ông Dương Văn Q

- Luật sư - Văn phòng Luật sư B; Địa chỉ: tỉnh Đắ Lắ . Có mặt.

2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Đắ Lắ - Ông Nguyễn Như B.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Dương Văn X – chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Đắ Lắ (Theo Văn bản ủy quyền số 03/GUQ-UBND ngày 16/8/2018); Địa chỉ: Trung tâm h nh chính huyện B, tỉnh Đắ Lắ . Ông X có mặt.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Trần Thị V; Địa chỉ: xã E, huyện B, tỉnh Đắ Lắ . Vắng mặt.

3.2. Ông Phạm Văn L (Chết);

Người ế thừa quyền v nghĩa vụ tố tụng của ông L: Bà Trần Thị V, chị Phạm Thị H2, anh Phạm Văn T1, chị Phạm Thị H3, chị Phạm Thị N, anh Phạm Văn H (l vợ v các con của ông L); Cùng địa chỉ: xã E, huyện B, tỉnh Đắ Lắ . Đều vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà V và các con ông L là ông Trần Trọng H4 – sinh năm 1972; địa chỉ: tỉnh Đắ Lắ (theo gi y ủy quyền ng y 28/9/2018). Ông H4 có đơn xin xét xử vắng mặt.

3.3. Ông Phạm Văn H (Chết).

Người ế thừa quyền v nghĩa vụ tham gia tố tụng của Ông H1: Ông Phạm Văn P, Phạm Văn S, Phạm Văn Q v Phạm Hồng P; Cùng địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắ Lắ . Ông P có mặt, những người còn lại vắng mặt.

Các ông Q, P, S, Phúc ủy quyền cho ông Đ o Đình H1 theo Gi y ủy quyền ng y 20 tháng 3 năm 2018. Ông H1 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Ng ời hởi i n g

ông, bà Ph

ăn C, Ph

ăn P, Ph ăn , Nguyễn hị M, Ph

hị D, Ph

hị Q, Ph

hị - Ng ời đ i di n the ủy quyền ông

ình 1, trình bày:

Ông Phạm Văn T3 và bà Trần Thị B là bố mẹ của các ông, bà Phạm Văn C, Phạm Văn T, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q, Phạm Thị H, còn Phạm Văn P là cháu nội (bố đẻ của ông Phong là ông Phạm Văn H đã chết).

Năm 1980, ông T3 và bà B vào sinh sống tại thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắ hai hoang được 6.160m2 đ t đ trồng cà phê, tiêu, lúa.

Năm 1998 bà B chết, năm 1999 ông T3 chết hông đ lại di chúc. Khi biết được đ t của ông T3 và bà B đã bị UBND huyện B c p GCNQSDĐ cho hộ ông Phạm Văn L (con trai ông T3, bà B), nên các ông, bà: Phạm Văn C, Phạm Văn T, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q, Phạm Thị H, Phạm Văn P l m đơn khiếu nại đến UBND huyện B. Trước khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại số: 4524/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 của Chủ tịch UBND huyện B, thanh tra huyện B xác minh, về nguồn gốc diện tích đ t tại các thửa đ t số 361, 360, 355a, 359 và thửa 378a, tờ bản đồ số 37 c p GCNQSDĐ cho hộ ông Phạm Văn L, là của ông Phạm Văn T3 và bà Trần Thị B. Việc UBND huyện B căn cứ vào “Trích biên bản họp gia đình ng y 09/10/1999” đ c p GCNQSDĐ số: AC 975654 và AC 975661 cho hộ ông L là trái với quy định của pháp luật. Biên bản này có nội dung không rõ ràng, chữ ký của các anh chị em trong gia đình giả mạo, không có họp v hông có ”. Năm 1997, ông T3 và bà B đang sống quản lý toàn bộ diện tích đ t đã hai hoang hông hề tặng cho hay chuy n nhượng cho ai. Khi ban hành quyết định số: 4524/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 của Chủ tịch UBND huyện B về việc giải quyết khiếu nại, đáng lẽ ra Chủ tịch UBND huyện B phải hủy 02 GCNQSDĐ nói trên đ trả lại quyền sử dụng đ t cho những người thừa kế của ông T3, bà B. Nhưng UBND huyện B sau khi tuyên hủy 02 GCNQSDĐ nói trên lại hướng dẫn cho bà Trần Thị V (vợ ông L) đến UBND xã Ea Nuôi làm thủ tục c p lại. Như vậy, UBND huyện B lại tước bỏ quyền lợi của những người được hưởng thừa kế của ông T3, bà B.

Nay tôi l người đại diện theo ủy quyền cho các ông bà C, T, M, D, Q, H, P đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk hủy quyết định số: 4524/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 của Chủ tịch UBND huyện B về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn C và trả lại quyền sử dụng đ t của ông T3, bà B cho những người thừa kế hợp pháp.

* Người bị kiện: Chủ tịch UBND huyện B - Ông Nguyễn Như Bút tại Bản tự khai này 21/7/2017, ông Bút trình bày:

Ngày 25/7/2016, các ông, bà Phạm Văn C, Phạm Văn P, Phạm Văn T, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q, Phạm Thị H, có đơn khiếu nại đề nghị UBND huyện B xem xét việc c p GCNQSDĐ cho hộ ông Phạm Văn L và bà Trần Thị V l hông đúng đối tượng, hông đủ điều kiện c p GCNQSDĐ cho hộ ông Phạm Văn L, bà Trần Thị V.

Đ giải quyết khiếu nại của những người có tên trên, UBND huyện B đã tiến hành các trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, như sau:

Ngày 07/12/2016, Chủ tịch UBND huyện B ban hành Quyết định số: 4282/QĐ-UBND về việc xác minh khiếu nại của ông Phạm Văn C.

Ng y 12/12/2016, Đo n xác minh số: 4282/QĐ-UBND tri n khai kế hoạch, ki m tra xác minh đ tham mưu cho UBND huyện B giải quyết đơn khiếu nại của ông Phạm Văn C.

Ngày 28/02/2017, UBND huyện B tổ chức đối thoại với ông Phạm Văn C.

Ng y 09/3/2015, Đo n xác minh số: 4282/QĐ-UBND có báo cáo về kết quả ki m tra xác minh nội dung đơn thư hiếu nại. Qua xác minh tại UBND xã E, thì hồ sơ c p GCNQSDĐ của hộ ông Phạm Văn L và bà Trần Thị V, gồm: Gi y xác nhận quyền sử dụng đ t ngày 05/01/1995 của UBND thị xã B c p cho hộ ông L diện tích 8.900m2; Quyết định số: 331/QĐ-UB ngày 30/6/1997 của UBND huyện B về việc c p GGNQSDĐ tập trung tại xã E; có 1.957 hộ gia đình v cá nhân, trong đó có hộ ông Phạm Văn L ở thôn H, xã E. Hộ Phạm Văn L có 10 thửa (126, 125, 127, 129a, 388a, 378a, 359, 360, 355a) đều ở tờ bản đồ số 37. Căn cứ vào sổ mục kê ngày 17/07/1998 cho nên việc c p GCNQSDĐ cho ông Phạm Văn L cũng như các hộ trên được công khai, nghiệm thu, phê duyệt đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi các hộ ở thôn H, xã E, huyện B được c p GCNQSDĐ, đều được lập danh sách đưa v o sổ địa chính ngày 10/9/1998 (các hộ đã được c p GCNQSDĐ), hộ ông L đến đăng nhận GCNQSDĐ thì mới phát hiện GCNQSDĐ đang lưu trữ bị m t.

Tại thời đi m gia đình ông L được c p GCNQSDĐ (năm 1997) thì ông Phạm Văn T3 và bà Trần Thị B còn sống cùng con, cháu, nhưng hông ai có kiến gì. Theo gi y đề nghị ngày 14/7/1999 của ông Phạm Văn L với nội dung đề nghị được nhận GCNQSDĐ. Theo đề nghị c p GCNQSDĐ của ông L v o năm 2005 là việc c p lại c p đổi, thì việc c p lại, c p đổi GCNQSDĐ phải được thực hiện theo quy định tại điều 144 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004. Việc UBND huyện B tiếp tục c p mới GCNQSDĐ cho ông Phạm Văn L đối với các thửa đ t trên v o ng y 30/11/2005 l hông đảm bảo về trình tự thủ tục. Bên cạnh đó, còn có sự nhầm lẫn về số thửa 387a (nhưng thực tế số thửa 378a). Việc UBND huyện B c p mới, nhưng chưa hủy bỏ GCNQSDĐ đã c p theo quyết định số: 331/QĐ-UB ng y 30/6/1997 đối với các thửa nói trên là c p trùng hông đúng.

Năm 2012, ông L chết, ông C mới khiếu nại.

Ngày 07/9/2017, Chủ tịch UBND huyện B có buổi làm việc với ông Phạm Văn C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và chính quyền địa phương xã E.

Căn cứ vào các tài liệu thu thập được, nên Chủ tịch UBND huyện B ban hành Quyết định số: 4524/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn C trú tại xã E, huyện B.

- Bác bỏ toàn bộ nội dung khiếu nại của ông Phạm Văn C.

Giao cho phòng Tài nguyên - Môi trường tham mưu cho UBND huyện tiến hành làm thủ tục thu hồi, hủy bỏ giá trị pháp l các GCNQSDĐ, gồm số: AC 975854; AC 975661; AC 975662 đều c p ngày 30/11/2005 mang tên Phạm Văn L và Trần Thị V, do vậy đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị V, ông Phạm Văn L (đã chết) - Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của ông Phạm Văn L là bà Trần Thị V, chị Phạm Thị H2, anh Phạm Văn T1, chị Phạm Thị H3, chị Phạm Thị N, anh Phạm Văn H (là vợ và các con của ông L). Người đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị H2, anh Phạm Văn T1, chị Phạm Thị H3, chị Phạm Thị N, anh Phạm Văn H là bà Trần Thị V, trình bày:

Năm 1980, vợ chồng tôi cùng các con đi inh tế mới có hai hoang được một số diện tích đ t trồng c phê, đến năm 1995 thì được UBND thị xã B xác nhận cho gia đình tôi vừa đ t ở, vừa đ t cà phê là 8.900m2. Sau đó gia đình tôi lại khai hoang tiếp đ t trồng m u v đ o ao, đến năm 1997 có chủ trương c p GCNQSDĐ nên gia đình tôi đã đăng

ê hai. Diện tích đ t của gia đình tôi, gồm 10 thửa (126, 125, 127, 129, 388a, 378a, 359, 360, 355a) đều ở tờ bản đồ số 37 đã được đưa v o sổ mục ê ng y 17/07/1998. Sau hi được c p GCNQSDĐ thì được đưa v o sổ địa chính ngày 10/9/1998 của xã E. Việc các ông, bà Phạm Văn C, Phạm Văn P, Phạm Văn T, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q, Phạm Thị H, có đơn hiếu nại cho rằng diện tích đ t tại thửa 378a, 360, 355a và 359 tờ bản đồ số 37 của ông Phạm Văn T3 và bà Trần Thị B l hông có cơ sở. Theo gi y đề nghị ngày 14/7/1999 của ông Phạm Văn L (chồng tôi) với nội dung đề nghị được nhận GCNQSDĐ, hi biết được bị m t thì ông L l m đơn xin được c p lại. Việc ông Chiến cùng một số anh em của ông L, cho rằng việc c p GCNQSDĐ v o ng y 30/11/2005 l y biên bản họp gia đình l hông đúng. Đề nghị Tòa xem xét.

* Ng ời bả v quyền lợi í h hợ h h những ng ời hởi i n ông Ph

ăn C, Ph

ăn P, Ph

ăn , bà Nguyễn hị M, Ph

hị D, Ph

hị Q, Ph

hị l ông D ơng ăn Quế, trình b y:

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, việc UBND huyện B l y trích “Biên bản họp” ng y 09/10/1999 đ c p GCNQSDĐ đối với các thửa đ t 378a, 360, 355a và 359 tờ bản đồ số 37 cho hộ ông Phạm Văn L và bà Trần Thị V là không đúng.

Diện tích đ t các thửa nói trên thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Văn T3, bà Trần Thị B. Việc hộ ông L được UBND thị xã B (nay thành phố B) xác nhận quyền sử dụng đ t ngày 05/01/1995 là ở vị trí khác, về danh sách các thửa đ t nói trên thuộc chủ sử dụng của ông Phạm Văn L có trong sổ địa chính ngày 10/9/1997 và sổ mục kê ngày 17/7/1998 là có sự nhầm lẫn. Đề nghị Tòa án xem xét hai lần c p GCNQSDĐ cho hộ ông Phạm Văn L đối với các thửa đ t 378a, 360, 355a và 359 tờ bản đồ số 37 tại xã E, huyện B. Người kê khai chủ sử dụng đ t hợp pháp là ông Phạm Văn T3 và bà Trần Thị B. Việc UBND huyện B dựa v o “Biên bản họp gia đình” ng y 09/10/1999 đ c p GCNQSDĐ cho hộ ông Phạm Văn L, bà Trần Thị V là vi phạm về quyền thừa kế quyền sử dụng đ t của các con, cháu. Do vậy, đề nghị Tòa án ch p nhận đơn khởi kiện của các ông, bà Phạm Văn C, Phạm Văn P, Phạm Văn T, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q, Phạm Thị H, hủy Quyết định số: 4524/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn C trú tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

* Ng ời bả v quyền lợi í h hợ h

h Chủ tị h UBND huy n B ông Phan Minh u n, trình b y:

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Tu n giữ nguyên quyết định số: 4524/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn C trú tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Việc c p GCNQSDĐ cho hộ ông L v o năm 1997 là có căn cứ , khi có bản đồ giải thửa các hộ gia đình ở xã E, huyện B đều xin đăng

ê hai c p GCNQSDĐ. UBND xã lập danh sách, thành lập Hội đồng xét duyệt về c p GCNQSDĐ, hi các hộ dân được xét duyệt thì danh sách được niêm yết tại UBND xã và tại các nhà văn hóa thôn Buôn. Trong thời hạn 15 ngày, k từ ngày niêm yết, những người có trong danh sách được c p GCNQSDĐ nếu không có tranh ch p thì UBND xã E làm tờ trình kèm theo danh sách gửi lên UBND huyện B xem xét đ c p GCNQSDĐ, trong đó có hộ ông Phạm Văn L và bà Trần Thị V. Căn cứ vào trình tự thủ tục c p GCNQSDĐ cho các hộ ở xã E, huyện B, Chủ tịch UBND huyện B ban hành Quyết định số: 331/QĐ-UBND ngày 30/6/1997 về việc c p GCNQSDĐ cho các hộ ở xã Ea Nuôi, sau đó các hộ được c p GCNQSDĐ được đưa v o sổ địa chính v được nhận GCNQSDĐ, hộ ông Phạm Văn L cũng đã được c p GCNQSDĐ. Tại gi y đề nghị ngày 14/7/1999 của ông Phạm Văn L với nội dung đề nghị được nhận GCNQSDĐ, hi biết được bị m t thì ông L l m đơn xin được c p lại. Việc UBND huyện B lại căn cứ v o “Trích Biên bản họp gia đình” ng y 09/10/1999 đ c p mới GCNQSDĐ cho hộ ông L, bà V đối với các thửa đ t trên là trùng với Quyết định số: 331/QĐ-UBND ng y 30/6/1997 l hông đúng. Do vậy, Chủ tịch UBND huyện B đã ban h nh Quyết định số: 4524/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn C trú tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, với nội dung không ch p nhận đơn hiếu nại của ông Phạm Văn C. Việc Chủ tịch UBND huyện B ban hành số: 4524/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn C l đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn hởi kiện của các ông, bà Phạm Văn C, Phạm Văn P, Phạm Văn T, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q, Phạm Thị H.

* Ng ời bả v quyền lợi í h hợ h

h b r n hị , ông r n rọng 4 trình bày:

Năm 1980, vợ chồng ông L và bà V cùng các con đi inh tế mới có khai hoang được một số diện tích đ t trồng c phê, đến năm 1995 thì được UBND thị xã B xác nhận cho đ t ở, vừa đ t cà phê là 8.900m2. Sau đó gia đình ông L lại khai hoang tiếp đ t trồng m u v đ o ao, đến năm 1997 có chủ trương c p GCNQSDĐ nên gia đình ông đã đăng

ê hai. Diện tích đ t của gia đình ông bà, gồm 10 thửa (126, 125, 127, 129a, 388a, 378a, 359, 360, 355a) đều ở tờ bản đồ số 37 v được đưa vào sổ địa chính của xã E, năm 1998 thì được chuy n qua sổ mục kê. Theo gi y đề nghị ngày 14/7/1999 của ông Phạm Văn L (chồng bà V) với nội dung đề nghị được nhận GCNQSDĐ, hi biết được bị m t thì ông L l m đơn xin được c p lại. UBND huyện B lại c p mới GCNQSDĐ cho hộ ông L là trái với quy định của pháp luật. Việc các ông, bà Phạm Văn C, Phạm Văn P, Phạm Văn T, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q, Phạm Thị H, có đơn khiếu nại cho rằng diện tích đ t tại thửa 378a, 360, 355a và 359 tờ bản đồ số 37 của ông Phạm Văn T3 và bà Trần Thị B l hông có cơ sở. UBND huyện B ban hành Quyết định số: 4524/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn C trú tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắ , l có căn cứ. Đề nghị Tòa án bác đơn hởi kiện của các ông, bà Phạm Văn C, Phạm Văn P, Phạm Văn T, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q, Phạm Thị H.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của những người khởi kiện vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện.

Tại Bản án Hành chính sơ thẩm số 16/2018/HC-ST ngày 18 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; Điều 116; khoản 2 Điều 157; khoản 1, 3 Điều 158; đi m a khoản 2 Điều 193; Điều 194 Luật tố tụng hành chính; Áp dụng khoản 1 Điều 2 Luật đ t đai năm 1993, đi m b khoản 1 Điều 106 Luật đ t đai năm 2013; Điều 144 Nghị định số: 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004; Điều 21 Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; khoản 1 Điều 32 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30/12/2016.

uyên :

Không ch p nhận đơn khởi kiện của các ông, bà Phạm Văn C, Phạm Văn P, Phạm Văn T, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q, Phạm Thị H về việc yêu cầu hủy Quyết định số: 4524/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 của UBND huyện B về việc giải quyết khiếu nại của ông Phạm Văn C trú tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

Ngo i ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí và quyền háng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/5/2018, những người hởi iện gồm các ông, b : Phạm Thị H, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q, Phạm Văn C, Phạm Văn P và Phạm Văn T có đơn háng cáo to n bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người hởi iện b Phạm Thị H, bà Nguyễn Thị M, bà Phạm Thị D, bà Phạm Thị Q, ông Phạm Văn C, ông Phạm Văn P và ông Phạm Văn T do ông Đ o Đình H1 đại diện theo ủy quyền giữ nguyên đơn hởi iện v yêu cầu háng cáo. Người bị iện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B là ông Nguyễn Như B do ông Dương Văn X đại diện theo ủy quyền giữ nguyên Quyết định số 4524/QĐ-UBND ng y 08/9/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B về việc giải quyết hiếu nại của ông Phạm Văn C, trú tại xã E, huyện B, tỉnh Đắ Lắ . Ông Đ o Đình H1 cũng như người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người hởi iện cho rằng: Diện tích đ t hiện nay b Trần Thị V đang quản l sử dụng l của ông Phạm Văn T3 và bà Trần Thị B, cha mẹ của người hởi iện mua v hai hoang trên đ t có căn nh c p 4, một số cây tiêu v cà phê nên yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm ch p nhận háng cáo của người hởi iện sửa bản án sơ thẩm, hủy Quyết định giải quyết hiếu nại số 4524/QĐ-UBND ng y 08/9/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.

Ông Dương Văn Xanh l người đại diện theo ủy quyền của người bị iện cho rằng: Quyết định số 4524/QĐ-UBND ng y 08/9/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B l đúng pháp luật nên yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm bác háng cáo của người hởi iện v giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ông Trần Trọng H4 l người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Trần Thị V và các con ông Phạm Văn L thì tại đơn xin xét xử vắng mặt v có văn bản ng y 28/9/2018 cho rằng: Diện tích đ t hiện nay b Trần Thị V đang quản l , sử dụng l do vợ chồng b Trần Thị V, ông Phạm Văn L từ Bắc v o hai hoang, năm 1995 đã được UBND thị xã B c p Gi y xác nhận quyền sử dụng đ t với diện tích 8.900m2. Vợ chồng ông L, bà V tiếp tục hai hoang trồng m u, đ o ao v đã ê hai được UBND huyện B c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Do đó, những người hởi iện cho rằng diện tích đ t m hiện nay bà V quản l , sử dụng l của ông T3, bà B là hông có cơ sở nên yêu cầu Tòa án c p phúc thẩm bác háng cáo của những người hởi iện v giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện i m sát nhân dân c p cao tại Đ N ng cho rằng về phần thủ tục tố tụng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm đảm bảo đúng quy định của pháp luật v đề nghị Hội đồng xét xử hông ch p nhận háng cáo của người hởi iện bà Phạm Thị H, bà Nguyễn Thị M, bà Phạm Thị D, bà Phạm Thị Q, ông Phạm Văn C, ông Phạm Văn P, ông Phạm Văn T v giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghe người hởi iện, người bị iện trình b y, căn cứ v o các chứng cứ đã được xem xét tại phiên to , iến đại diện Viện i m sát nhân dân c p cao tại Đ N ng, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Những người hởi iện do ông Đ o Đình H1 đại diện theo ủy quyền căn cứ v o đơn đề nghị lập ng y 02/02/1980 của ông Y lập cho ông Phạm Văn T3 hoảng 600m2 (có d u hiệu sửa 900m2) v một số người hác v o đơn xin xác nhận của ông Phạm Văn C đ cho rằng diện tích đ t m hiện nay b Trần Thị V đang quản l , sử dụng l của ông Phạm Văn T3, bà Trần Thị B l cha mẹ của những người hởi iện chết đ lại. Nhưng xét tại đơn đề nghị nói trên hông có chứng thực của cơ quan Nh nước có thẩm quyền. Hơn nữa, trong quá trình sử dụng đ t ông T3, bà B hông có ê hai, đăng với cơ quan Nh nước. Trong hi đó đối với ông Phạm Văn L và bà Trần Thị V thì tại Gi y xác nhận Quyền sử dụng đ t số 0335/Đ -TK-RĐ ng y 05/01/1995 của Ủy ban nhân dân thị xã B đã c p cho hộ ông Phạm Văn L 8.900m2 đ t. Ng y 30/6/1997 Ủy ban nhân dân huyện B ban h nh Quyết định số 331/QĐ-UB về việc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho 1.957 hộ gia đình v cá nhân, trong đó có hộ ông Phạm Văn L. Tại sổ địa chính do Ủy ban nhân dân xã E lập ng y 10/9/1997 có ghi rõ chủ sử dụng đ t ông Phạm Văn L gồm 10 thửa đ t. Tại sổ mục ê đ t do Sở địa chính tỉnh Đắ Lắ lập ng y 17/7/1998 cũng ghi rõ các thửa đ t của ông Phạm Văn L sử dụng.

Việc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t trên được công hai, nghiệm thu, phê duyệt đảm bảo theo quy định của pháp luật v tại thời đi m đó ông Phạm Văn T3 và bà Trần Thị B vẫn còn sống cùng con, cháu nhưng hông có iến hay hiếu nại gì.

Sau hi các hộ ở thôn H, xã E, huyện B được c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, hộ ông Phạm Văn L đến đăng nhận thì mới phát hiện Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t c p cho hộ ông L bị th t lạc. Theo gi y đề nghị ng y 14/7/1999 của ông Phạm Văn L với nội dung được nhận Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã E v theo đề nghị c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của ông Phạm Văn L v o năm 2005 thì việc c p lại Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho ông Phạm Văn L đúng ra phải được thực hiện theo quy định tại Điều 144 Nghị định số 181/2004/NĐ – CP ng y 29/10/2004 của Chính phủ thi h nh luật đ t đai năm 2003 về trình tự, thủ tục c p lại, c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân huyện B c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t (thửa 126, 361, 387a, tờ bản đồ số 37) cho hộ ông Phạm Văn L v o ng y 30/11/2005 thực hiện theo quy trình c p mới Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t lần đầu theo Điều 50 luật đ t đai năm 2003 l hông đảm bảo về trình tự thủ tục, đồng thời còn có sự nhầm lẫn về số thửa 387a (nhưng thực tế số thửa 378a). Mặt hác, việc Ủy ban nhân dân huyện c p mới lại Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho hộ ông Phạm Văn L v o ng y 30/11/2005 nhưng chưa thực hiện việc hủy bỏ Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đã c p theo Quyết định số 331/QĐ-UBND ngày 30/6/1997 đối với các thửa đ t nói trên l c p trùng, hông đúng.

Do đó, ng y 08/9/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 4524/QĐ-UBND về việc giải quyết hiếu nại của ông Phạm Văn C có nội dung:

Bác bỏ to n bộ nội dung hiếu nại của ông Phạm Văn C.

Giao cho Phòng T i nguyên v Môi trường tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện tiến h nh l m thủ tục thu hồi, hủy bỏ giá trị pháp l các Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AC 975854, AC 975661, AC 975662 đều c p ng y 30/11/2005 cho chủ sử dụng đ t hộ ông Phạm Văn L và bà Trần Thị V.

Hộ gia đình b Trần Thị V liên hệ với Ủy ban nhân dân xã E đ được hướng dẫn ho n thiện hồ sơ, thủ tục đăng c p lại Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đảm bảo theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật hiện h nh.

Quyết định nói trên của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B l có căn cứ, đúng pháp luật. Bản án h nh chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắ Lắ tuyên xử bác đơn hởi iện của các ông, b : Phạm Văn C, Phạm Văn P, Phạm Văn T, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q, Phạm Thị H về việc yêu cầu hủy Quyết định số 4524/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B l có cơ sở nên Hội đồng xét xử Tòa án c p phúc thẩm bác háng cáo của những người hởi iện nói trên v giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Do yêu cầu háng cáo hông được ch p nhận nên những người hởi iện phải chịu án phí h nh chính phúc thẩm.

Những phần quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị nên hông xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ hoản 1 Điều 241 Luật tố tụng h nh chính,

1. Bác háng cáo của người hởi iện b Phạm Thị H, bà Nguyễn Thị M, bà Phạm Thị D, bà Phạm Thị Q, ông Phạm Văn C, ông Phạm Văn P, ông Phạm Văn T v giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng hoản 1 Điều 30, hoản 4 Điều 32, Điều 116, hoản 2 Điều 157, hoản 1, hoản 3 Điều 158, đi m a hoản 2 Điều 193, Điều 194 Luật tố tụng h nh chính; hoản 1 Điều 2 Luật đ t đai năm 1993; đi m b hoản 1 Điều 106 Luật đ t đai năm 2013; Điều 144 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004; Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ng y 15/5/2014 của Chính phủ; hoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Bác đơn hởi iện của các ông, bà: Phạm Văn C, Phạm Văn P, Phạm Văn T, Phạm Thị H, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q về việc yêu cầu hủy Quyết định số 4524/QĐ-UBND ng y 08/9/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B về việc giải quyết hiếu nại của ông Phạm Văn C, trú tại xã E, huyện B, tỉnh Đắ Lắ .

2. Về án phí: Các ông, b : Phạm Văn C, Phạm Văn P, Phạm Văn T, Phạm Thị H, Nguyễn Thị M, Phạm Thị D, Phạm Thị Q mỗi người phải chịu 300.000đ án phí h nh chính phúc thẩm. Được trừ số tiền của các ông, b nói trên đã nộp mỗi người 300.000đ tại các Biên lai thu tiền số 0007368, 0007369, 0007370, 0007371, 0007372 cùng ng y 08/6/2018, số 0007377, 0007378 cùng ng y 11/6/2018 của Cục Thi h nh án dân sự tỉnh Đắ Lắ .

3. Các quyết định còn lại của bản án sơ thẩm về phần án phí hông có háng cáo, háng nghị đã có hiệu lực pháp luật từ ng y hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ