vanban.org

Bản án 146/2017/HSST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lê Hùng P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Hùng P 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2017. Phạt bổ sung bị cáo P 5.000.000 (Năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hùng P - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Hùng P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
___________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2017/HSST
Ngày: 19/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.

Các Hội thẩm Nhân dân:

1/Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

2/Bà Vũ Thị Thu Hương.

Thư ký Tòa án ghi biên bản P1ên tòa:

- Ông Nguyễn Hoài Anh - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 10.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

- Bà Trần Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 địa chỉ: 27 đường Thành Thái, Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 117/2017/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Lê Hùng P - Giới tính: Nam; sinh năm: 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Đường A, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Phật; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; con ông: Lê Đức T; và bà: Hoàng Thị Kim T; có vợ:/ và 02 con (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2016); tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt giữ ngày: 23/5/2017.

(Bị cáo có mặt)

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/5/2017, tại phòng 201 khách sạn “Kim Thịnh Phát” – địa chỉ: 266/4 đường Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10, Công an Phường 15, Quận 10 kết hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Quận 10 tiến hành kiểm tra hành chính, thu giữ của Lê Hùng P gồm: 01 hộp màu đen bên trong có 06 gói nylon (bên trong chứa chất bột màu trắng), 05 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu (bên trong chứa chất bột màu trắng), 08 gói nylon (bên trong chứa tinh thể rắn không mà), P khai là heroine và ma túy tổng hợp, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia. Vụ việc được Công an Phường 15, Quận 10 lập hồ sơ ban đầu, sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.

Tại Kết luận giám định số 982/KLGĐ-H ngày 22/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Gói 1: Chất bột màu trắng trong 06 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0400g, loại Heroine.

- Gói 2: Chất bột màu trắng trong 05 đoạn ống nhựa được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3108g, loại Heroine.

- Gói 3: Tinh thể không màu trong 08 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3386g, loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra xác định, Lê Hùng P khai nhận: P thuê phòng 201 khách sạn “Kim Thịnh Phát” – địa chỉ: 266/4 đường Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10 từ ngày 21/5/2017 để ở và làm nơi bán ma túy. Nguồn gốc ma túy của P gồm: 06 gói nylon bên trong chứa chất bột màu trắng, 05 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu chứa chất bột màu trắng là P mua của đối tượng tên G (không xác định lai lịch, địa chỉ) tại trước cổng trường Âu Lạc, quận Tân Bình với giá 12.400.000 đồng vào ngày 22/5/2017; 08 gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu là P mua của đối tượng tên P1 (không xác định lai lịch, địa chỉ) tại đường Chánh Hưng, Quận 8 với giá 1.600.000đ vào ngày 23/5/2017. Sau khi mua ma túy của G và P1, P đem số ma túy về phòng 201 khách sạn “Kim Thịnh Phát”, chia nhỏ bán cho các người nghiện. P mua bán ma túy từ tháng 12/2016 đến nay. Trong thời gian mua bán ma túy, Lê Hùng P thu lợi bất chính 2.400.000 đồng. Số tiền này, P đã tiêu xài hết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố điều tra đối với Lê Hùng P về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Riêng các đối tượng tên G, P1 ( không xác định lai lịch, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 30 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố Lê Hùng P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).

Tại Phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Lê Hùng P đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Hùng P đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đối với bị cáo Lê Hùng P; xử phạt bị cáo Lê Hùng P từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, đồng thời phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Đối với: 01 gói niêm phong (bên trong có 06 gói nylon chứa chất bột màu trắng, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10); 01 gói niêm phong (bên trong có 05 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu có chưa chất bột màu trắng, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10); 01 gói niêm phong (bên trong có 08 gói nylon chứa tinh thể không màu, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia; là phương tiện dùng vào việc mua bán trái phép chất ma túy; đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

Đối với: 01 hộp màu đen; không đáng giá trị; vậy đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu và tiêu hủy.

Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo nuôi hai con nhỏ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: bị cáo Lê Hùng P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, bị cáo đã có cất giữ trái phép: 1,0400g + 0,3108g = 1,3508g loại Heroin và 1,3386g loại Methamphetamine, nhằm mục đích để bán lại cho người khác; chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số: 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là các chất ma túy; do vậy bị cáo bị truy tố và xét xử theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).

Đối với những lần mua bán ma túy trước mà bị cáo đã khai trong quá trình điều tra và thu lợi bất chính 2.400.000 đồng; xét thấy ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào chứng minh; do vậy hiện chưa đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với những lần mua bán ma túy này theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo; nhưng kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, củng cố chứng cứ xử lý P về những lần mua bán ma túy này và xử lý số tiền thu lợi bất chính.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương; ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), phạt bổ sung bị cáo một số tiền để sung quỹ Nhà nước.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bản thân trực tiếp nuôi hai con nhỏ (vợ đã bỏ đi, không xác định); vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng:

Đối với: 01 gói niêm phong (bên trong có 06 gói nylon chứa chất bột màu trắng, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10); 01 gói niêm phong (bên trong có 05 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu có chưa chất bột màu trắng, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10); 01 gói niêm phong (bên trong có 08 gói nylon chứa tinh thể không màu, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia; là phương tiện dùng vào việc mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, sung quỹ Nhà nước.

Đối với: 01 hộp màu đen; không đáng giá trị; vậy áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Lê Hùng P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Lê Hùng P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1, 5 Điều 194; điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) đối với bị cáo Lê Hùng P;

Xử phạt bị cáo Lê Hùng P 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2017.

Phạt bổ sung bị cáo P 5.000.000 (Năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi nợ quá hạn của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong (bên trong có 06 gói nylon chứa chất bột màu trắng, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10); 01 gói niêm phong (bên trong có 05 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu có chưa chất bột màu trắng, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10); 01 gói niêm phong (bên trong có 08 gói nylon chứa tinh thể không màu, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký tên Lê Hùng P và hình dấu Công an Phường 15, Quận 10).

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tịch thu và tiêu hủy: 01 hộp màu đen.

(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số 54/17/PNK ngày 11/7/2017 của Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc:

- Bị cáo P chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ