vanban.org

Bản án 146/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 20/12/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/12/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Quốc D, sửa bản án sơ thẩm;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc D 03 (ba) tháng tù, thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc Dũng - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Quốc D, sửa bản án sơ thẩm;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 146/2017/HSPT
Ngày 20-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân;

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Kim Sang;

Bà Phạm Thị Thanh Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Song Tố Như – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt– Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 170/2017/HSPT ngày 13 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo Lê Quốc D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Quốc D (T), sinh năm 1992 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện D, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; con ông Lê Văn C, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1996; có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/8/2017.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Nguyễn Thị N (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đào Văn Q, sinh năm 1958; Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Tây Ninh; là chồng của bị hại. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 21/4/2017, bị cáo Lê Quốc D điều khiển xe mô tô mang biển số 70H6-3223 lưu thông trên đường 784 hướng từ xã C về xã L, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Đến đoạn đường thuộc ấp B, xã L, do không quan sát khi điều khiển xe chuyển hướng sang phần đường bên trái, xe mô tô do bị cáo điều khiển đã va chạm với xe mô tô mang biển số 70M2-6721 do ông Đào Văn Q, sinh năm 1958, ngụ ấp T, xã Đ, huyện B, chở vợ là bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965. Hậu quả ông Q, bà N và bị cáo bị thương, phải đưa đến Bệnh biện Đa khoa tỉnh Tây Ninh cấp cứu. Sau đó, bà N được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy tại Thành phố Hồ Chí Minh điều trị đến ngày 23/4/2017 thì tử vong.

Khi đang điều khiển xe mô tô mang biển số 70H6-3223, Lê Quốc D có giấy phép lái xe theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số 51/PY-2017 ngày 15 tháng 5 năm 2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Bà Nguyễn Thị N tử vong do chấn thương sọ não.

Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; Điều 46, Điều 42, Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 589, 509, 591 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc D 06 (sáu) tháng tù, thời gian thụ hình kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04 tháng 10 năm 2017, bị cáo Lê Quốc D kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm, cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo xin được hưởng án treo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo để lao động nuôi gia đình, con nhỏ và trả nợ khoản tiền đã bồi thường cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Bị cáo D thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội và giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo để lao động phụ giúp gia đình và trả nợ khoản tiền đã bồi thường cho bị hại.

Bị cáo xác nhận vào lúc 07 giờ 45 phút ngày 21/4/2017, do không quan sát khi sang đường, xe mô tô mang biển số 70H6-3223 do bị cáo điều khiển đã xảy ra va chạm với xe mô tô mang biển số 70M2-6721 do ông Đào Văn Q điều khiển, đang chở vợ là bà Nguyễn Thị N. Hậu quả, bà N tử vong do chấn thương sọ não. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Lê Quốc D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét việc bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, thấy rằng: Hiện nay, tình trạng điều khiển xe vi phạm Luật giao thông đường bộ có chiều hướng gia tăng, gây tâm lý bất an cho người dân khi tham gia giao thông nên hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông do lỗi của bị cáo không quan sát khi điều khiển xe chuyển hướng sang phần đường bên trái dẫn đến việc va chạm với bị hại. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xét bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại theo quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46, bị cáo có con nhỏ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, không nặng.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền còn lại theo yêu cầu của bị hại thể hiện bằng giấy giao nhận tiền với gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn bãi nại xin giảm án cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại toàn bộ số tiền 67.500.000 (sáu mươi bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Lê Quốc D được chấp nhận, áp dụng Điều 99 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy về án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Quốc D, sửa bản án sơ thẩm;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc D 03 (ba) tháng tù, thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Lê Quốc D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 67.500.000 (sáu mươi bảy triệu năm trăm nghìn) đồng. Chi cục Thi hành án dân sự huyện D trả lại cho bị cáo số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng bị cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0001430 ngày 08 tháng 9 năm 2017 và Biên lai thu số 0002890 ngày 27 tháng 9 năm 2017.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Quốc D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ