vanban.org

Bản án 146/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Không công nhận bà Bùi Thị Bích T với ông Nguyễn Hữu S là vợ chồng. [2]. Bà Bùi Thị Bích T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung tên Bùi Diệp Thiên D, sinh ngày 14/5/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xIn ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 146/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 01-9-2017
V/v tranh chấp “ Xin ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tới.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Tâm.

Bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Bà Lê Mai Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 162/2017/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2017 về việc tranh chấp “Xin lý hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2017/QĐST - HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Bích T, sinh năm 1988. (Có mặt)

Cư trú: Số 124, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu S, sinh năm 1986. (Vắng mặt)

Cư trú: Số 527, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 23 tháng 3 năm 2017 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Bùi Thị Bích T trình bày:

Bà và ông S sống chung với nhau năm 2010, không có đăng ký kết hôn, sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân đến nay. Nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cự cải, ông S không quan tâm đến vợ con. Hiện nay tình cảm không còn, xin được ly hôn với ông S.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Bùi Diệp Thiên D, sinh ngày 14/5/2014. Hiện cháu D đang sống với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có.

Ông Nguyễn Hữu S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Bà T và ông S, không đăng ký kết hôn nên căn cứ Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận bà T, ông S là vợ chồng.

Vợ chồng có 01 con chung tên Bùi Diệp Thiên D, sinh ngày 14/5/2014, con chung đang sống với bà T, sau khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bà T đang nuôi con chung, để đảm bảo sự phát triển về thể chất, tinh thần của cháu D, nghĩ nên để bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Bà Bùi Thị Bích T khởi kiện ông Nguyễn Hữu S, ông S cư trú ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Hữu S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân: Bà T và ông S chung sống với nhau vào năm 2010 nhưng không đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông S không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng. Căn cứ vào Điều 14 Luật hôn gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không công nhận bà T và ông S là vợ chồng.

. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Bùi Diệp Thiên D, sinh ngày 14/5/2014. Hiện cháu D đang sống với bà T. Khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Hiện nay cháu D đã sống ổn định với bà T. Bà T yêu cầu được nuôi cháu D, ông S cũng không có ý kiến phản đối. Tại biên bản xác minh ngày 23/5/2017 của Tòa án được Ban nhân dân ấp A xác nhận cháu D sống với bà T vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà T đối với yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Bùi Thị Bích T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với ông S.

. Về tài sản chung: Không có

. Về nợ chung: Không có.

Ghi nhận hai bên xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà T và ông S thì ông, bà phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tựng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Bùi Thị Bích T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 14, 53, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Điều 28, 35, 39, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1]. Không công nhận bà Bùi Thị Bích T với ông Nguyễn Hữu S là vợ chồng.

[2]. Bà Bùi Thị Bích T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 con chung tên Bùi Diệp Thiên D, sinh ngày 14/5/2014.

Bà Bùi Thị Bích T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Hữu S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3]. Về án phí: Bà Bùi Thị Bích T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0013779 ngày 11/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ