- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hoàng T-Nguyen An V Nguyen"
- Tòa quyết gì? III. Quyền kháng cáo:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ──────────── Bản án số: 1452/2018/HNGĐ-ST Ngày: 19-10-2018 Về việc tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Đức Kiền.
Bà Lê Thị Nhung.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Hồ Văn Cảm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số X017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 07 năm 2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 4520/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2018; Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1985; địa chỉ: Số X đường D, Phường P, quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyen An V Nguyen, sinh năm 1976; quốc tịch: Pháp; địa chỉ: Pháp. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng T trình bày:
Bà và ông Nguyen An V Nguyen tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn số X1 Quyển số X2 ngày 15 tháng 01 năm 2009 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14 tháng 01 năm 2009. Sau khi kết hôn, bà cùng chồng sang Pháp sinh sống. Tuy nhiên, cuộc sống chung không hạnh phúc do giữa hai người phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình trạng hôn nhân ngày càng trở nên trầm trọng. Năm 2015, bà trở về Việt Nam sinh sống cho đến nay, hai người sống ly thân và chỉ liên hệ với nhau qua điện thoại khi cần thiết. Nhận thấy không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc như hiện tại, bà Nguyễn Hoàng T khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông Nguyen An V Nguyen. Về con chung: Bà và ông Nguyen An V Nguyen không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với bị đơn ông Nguyen An V Nguyen: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thời gian và địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cơ quan có thẩm quyền của Cộng hòa Pháp, theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu ông Nguyen An V Nguyen có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc bà Nguyễn Hoàng T khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo công văn ủy thác tư pháp số 293/UTTPDS-TA30 ngày 04 tháng 8 năm 2017). Đến ngày mở phiên tòa như đã định tại thông báo gửi đương sự, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như bản tự khai, tài liệu, chứng cứ của bị đơn và bị đơn vắng mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Để đảm bảo việc xét xử theo đúng thời hạn luật định và bảo đảm quyền lợi của đương sự khác, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm có nêu: Thẩm phán, các thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm, các đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định pháp luật về tố tụng dân sự; quan hệ tranh chấp của vụ án đã được xác định đúng, chứng cứ được thu thập hợp lệ; vụ án có yếu tố nước ngoài Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền; thủ tục ủy thác tư pháp đã được tiến hành hợp lệ. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án giải quyết vụ án theo luật định. Đề xuất về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Theo trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng T thì cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông Nguyen An V Nguyen không hạnh phúc; hai người đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay và chỉ liên hệ với nhau qua điện thoại thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T. Về con chung, tài sản chung và nợ chung nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng T xác định không có, không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, giấy chứng nhận kết hôn; căn cứ lời trình bày của nguyên đơn tại bản tự khai, có cơ sở để xác định đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Bị đơn trong vụ án là ông Nguyen An V Nguyen, quốc tịch Pháp, hiện đang định cư tại Cộng hòa Pháp; nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng T cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt thông báo về thời gian và địa điểm mở phiên tòa cho bị đơn thông qua thủ tục ủy thác tư pháp nhưng không có kết quả; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Xét, yêu cầu và ý kiến của nguyên đơn đã được thể hiện rõ trong bản khai, sự vắng mặt của các bên đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và 3 Điều 228, Khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; Giấy chứng nhận kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn số X1 Quyển số X2 ngày 15 tháng 01 năm 2009 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14 tháng 01 năm 2009, có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Hoàng T với ông Nguyen An V Nguyen được xác lập trên cơ sở tự nguyện và được pháp luật Việt Nam thừa nhận.
Theo trình bày của nguyên đơn thì sau khi kết hôn, hai người chung sống tại Pháp từ năm 2009 đến 2015, tuy nhiên, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Từ năm 2015 đến nay, bà T trở về Việt Nam, ông Nguyen An V Nguyen tiếp tục sinh sống, làm việc tại Pháp. Nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyen An V Nguyen để mỗi người ổn định cuộc sống riêng.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Hoàng T và ông Nguyen An V Nguyen đã phát sinh mà không được giải quyết, hai người không còn chung sống, thời gian sống ly thân kéo dài, không ai còn ý định hàn gắn, đoàn tụ gia đình. Có cơ sở để xác định cuộc sống hôn nhân giữa nguyên và bị đơn đã mâu thuẫn ở mức độ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Nguyễn Hoàng T được ly hôn với ông Nguyen An V Nguyen như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa. [3] Về con chung: Nguyên đơn trình bày giữa bà và ông Nguyen An V Nguyen không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. [4] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40, Điều 147, Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 và 3 Điều 228, Khoản 5 Điều 477, Khoản 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 56, Điều 121 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự. I. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng T: 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng T được ly hôn với ông Nguyen An V Nguyen. Giấy chứng nhận kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn số X1 Quyển số X2 ngày 15 tháng 01 năm 2009 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14 tháng 01 năm 2009 không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Nguyên đơn trình bày không có, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. II. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đương sự đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/0047034 ngày 28 tháng 6 năm 2017 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự đã thi hành xong án phí sơ thẩm.
III. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng T có quyền kháng cáo để được xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định tại Điểm c Khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thời hạn kháng cáo của bị đơn là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND cấp cao tại Tp. HCM - VKSND Tp. HCM; - Cục THADS Tp. HCM; - UBND Tp. HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, HS. (TC17) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuấn |