- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1450/2018/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2018 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Cảnh Long
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Chính
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Võ Công Danh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 666/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 515/2018/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 531/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Tạ Như Hoàng M, sinh năm 1996 (có mặt);
Địa chỉ: Nhà không số, tổ 7, ấp Ruộng Tre, xã A, thị xã B, tỉnh Đồng Nai
Bị đơn: Ông Hoàng Thế Q, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Địa chỉ: 02-05 ấp 1, xã C, huyện H, Thành Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, ản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và trong quá trình xét xử tại Tòa án, nguyên đơn là bà Tạ Như Hoàng M trình bày:
Bà M và ông Hoàng Thế Q tự nguyện tìm hiểu, chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 90-2014, quyển số 01-2014 do Ủy an nhân dân xã A, thị xã B, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 27/10/2014.
Cuộc sống chung của bà M và ông Q hạnh phúc. Từ giữa năm 2017 đến nay, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cải vả nhau về vấn đề tiền ạc, thường mâu thuẫn với mẹ chồng nên vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà M yêu cầu ly hôn với ông Hoàng Thế Qh. Hiện tại, bà M và ông Q đã sống ly thân từ năm 2017.
Về con chung: Bà M và ông Hoàng Thế Q có 01 con chung tên Hoàng Ngọc Bảo U, sinh ngày 14/12/2015. Bà M yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cẩu ông Q cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại, con chung Hoàng Ngọc Bảo U đang sống chung với à My. Hiện, bà M đang làm công nhân tại Công ty TNHH CiBao, lương thực lãnh là 5.100.000 đồng/tháng nên có đủa khả năng tự nuôi con.
Về tài sản chung: Không có
Nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông Q hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông Q vẫn vắng mặt không có lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được và vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Phát iểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông áo các văn ản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn ộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và ị đơn là ông Hoàng Thế Q có địa chỉ tại huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Bị đơn ông Hoàng Thế Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Q theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của à Tạ Như Hoàng My và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ thì bà M và ông Hoàng Thế Q đã chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 90-2014, quyển số 01-2014 do Ủy an nhân dân xã A, thị xã B, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 27/10/2014 nên quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông Q là hợp pháp.
Bà M cho rằng cuộc sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc. Từ giữa năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên cải vả nhau về vấn đề tiền ạc, thường mâu thuẫn với mẹ chồng và vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng cũng không có iện pháp gì hàn gắn.
Theo Biên ản xác minh ngày 19/9/2018 của Ủy an nhân dân xã S, huyện H: Vợ chồng ông Hoàng Thế Q và à Tạ Như Hoàng M có mâu thuẫn.
Xét quá trình sống chung giữa các ên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn các ên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tình cảm, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Ông Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông áo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Q vẫn không đến và không có ý kiến, thể hiện ông Q không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của ông và à M. Xét tình trạng mâu thuẫn giữa bà M và ông Q trầm trọng, cuộc sống chung thực sự không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, việc bà M yêu cầu ly hôn với ông Q là có cơ sở giải quyết.
Về con chung: Bà M và ông Hoàng Thế Q có 01 con chung tên Hoàng Ngọc Bảo U, sinh ngày 14/12/2015. Bà M yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tự nguyện không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại, con chung do bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Xét, bà M làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Ci Bao, có thu nhập khoảng 5.193.000 đồng mỗi tháng nên bà M đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Do đó, bà M yêu cầu trực tiếp nuôi con và tự nguyên không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung là có cơ sở.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M khai là không có; tuy nhiên ông Q vắng mặt, không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn ộ yêu cầu của nguyên đơn là có cở sở.
Về án phí: Bà Tạ Như Hoàng M phải chịu án phí dân sự về giải quyết ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Tạ Như Hoàng M và ông Hoàng Thế Q.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 90-2014, quyển số 01-2014 do Ủy ban nhân dân xã A, thị xã B, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 27/10/2014 cấp cho bà Tạ Như Hoàng M và ông Hoàng Thế Q không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
2.1. Giao con chung Hoàng Ngọc Bảo U, sinh ngày 14/12/2015 cho bà Tạ Như Hoàng M trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Ông Hoàng Thế Q không cấp dưỡng nuôi con. Ông Q được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
Vì quyền lợi mọi mặt của người con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Tạ Như Hoàng M phải chịu án phí dân sự về giải quyết ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà à M đã nộp theo iên lai thu tiền số AA/2017/0018714 ngày 26/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà M đã nộp đủ án phí.
Trường hợp ản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Trường hợp, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM - Chi cục THADS H. H - VKSND H. H; - UBND X. A, TX B; - Đương sự; - Lưu : VT, hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Cảnh Long |