vanban.org

Bản án 145/HSST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 12 năm 2021. khóa bằng kim loại màu vàng hiệu Forus; 01 cây mỏ lết bằng kim loại màu trắng, phần răng có kẹp 01 đoạn khoen cửa bằng kim loại. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh N bị Tòa tuyên phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2022/HS-ST
Ngày: 06-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Lợi

Ông Phạm Văn Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân

dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên

tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2022/TLST-HS ngày 23

tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2022/QĐXXST-

HS ngày 21 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành N; Sinh năm 1978 tại Thành phố F; Địa chỉ thường trú: Số

A đường B, khu phố C, phường D, thành phố E, Thành phố F; Nơi cư trú: không

có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc:

Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn

Văn N, sinh năm 1951 và bà Huỳnh Thị T (Đã chết); Có vợ và 02 con, lớn sinh

năm 2001, nhỏ sinh năm 2003; Tiền án: Không; Tiền sự: 01, Quyết định số

46/2018/QĐ-TA ngày 12/6/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình

Dương áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 14 tháng;

Bị bắt tạm giam từ ngày 11 tháng 12 năm 2021. (Có mặt)

Bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1951; Địa chỉ: Số A đường B, khu

phố C, phường D, thành phố E, Thành phố F. (Vắng mặt)

.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 20/7/2020, Nguyễn Thành N đi chơi về nhà cha ruột

là ông Nguyễn Văn N tại địa chỉ: Số 65/1 Linh Trung, khu phố 2, phường Linh Trung, quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) để ngủ. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, N ngủ dậy thấy trong nhà không có ai nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của ông N cất trong phòng ngủ để tiêu xài. Sau đó, N đi bộ ra đầu hẻm gặp chị Trần Thị Thanh T (là mợ của N) mượn xe mô tô hiệu Yamaha Force màu đen biển số 53V4-2583 đi đến nhà anh họ Đặng Xuân Đ tại nhà số 91 đường Linh Trung, khu phố 2, phường Linh Trung đế mượn máy cưa điện rồi điều khiến xe quay về nhà. Khi về đến nhà N dùng máy cưa điện đến trước phòng ngủ của ông N cắt khoen khóa cửa, rồi lấy mỏ lết trong nhà bẻ gãy khoen khóa vào trong phòng đi đến tủ treo quần áo kéo ngăn tủ phía dưới phát hiện số tiền 80.000.000 đồng (gồm các mệnh giá 500.000 và 200.000) nên lấy tiền cất giấu trong người rồi mang máy cưa điện ra ngoài. N điều khiển xe mô tô đi trả máy cưa rồi quay lại trả xe mô tô cho chị T rồi bỏ đi. Sau khi trộm được số tiền trên của ông N, N đã tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 13 giờ 50 ngày 20/7/2020, ông N đi công chuyện về phát hiện đã bị mất trộm tài sản bao gồm: 80.000.000 đồng và 01 nhẫn vàng 9999 (01 lượng), 01 lắc vàng 18K (1,3 lượng), nghi ngờ N là người lấy trộm nên đến Công an phường Linh Trung trình báo sự việc.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã mời Nguyễn Thành N lên làm việc. Tại Cơ

quan Cảnh sát Điều tra, Nguyễn Thành N đã khai nhận hành vi phạm tội. N khai chỉ lấy số tiền 80.000.000 đồng, còn đối với 01 nhẫn vàng 9999 (01 lượng), 01 lắc vàng 18K (1,3 lượng) N khai không thấy có vàng trong ngăn kéo tủ và N cũng không lấy số vàng trên.

Ngày 11/12/2021, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức

ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Thành N.

Vật chứng: 01 đĩa USB ghi hình vụ việc; 01 ổ khóa bằng kim loại màu

vàng hiệu Forus; 01 cây mỏ lết bằng kim loại màu trắng, phần răng có kẹp 01 đoạn khoen cửa bằng kim loại.

Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: Ông Nguyễn Văn N không

yêu cầu bồi thường số tài sản bị mất.

Bản cáo trạng số 109/CT-VKS ngày 16/3/2022 của Viện kiểm sát nhân

dân thành phố Thủ Đức truy tố Nguyễn Thành Nhân về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh

luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Thành N về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thành N mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng;

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự

bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm

nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành

phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm

sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình

tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên

tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan

tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố

tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều

hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành N khai nhận vào lúc 12 giờ 30

ngày 20/7/2020 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 80.000.000 đồng của ông

Nguyễn Văn N, tại nhà số 65/1 Linh Trung, khu phố 2, phường Linh Trung,

thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo là người có năng lực trách

nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì

mục đích muốn thỏa mãn động cơ cá nhân, muốn có tiền tiêu xài mà không phải

lao động nên vẫn cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo

tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của

bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có

trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo

đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ

Đức đối với bị cáo Nguyễn Thành N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2

Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của

pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm

phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và gây mất trật tự, an

toàn xã hội cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật vì vậy, có một

mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm

giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết

giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s

khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên

Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 đĩa USB ghi hình vụ việc tiếp tục lưu hồ sơ; 01

ổ khóa bằng kim loại màu vàng hiệu Forus; 01 cây mỏ lết bằng kim loại màu trắng, phần răng có kẹp 01 đoạn khoen cửa bằng kim loại xét thấy vật chứng không có giá trị, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác: Đối với việc bị hại Nguyễn Văn N khai bị mất 01

nhẫn vàng 9999 (01 lượng), 01 lắc vàng 18K (1,3 lượng) thì ngoài lời khai của bị hại không có căn cứ nào khác chứng minh nên không đủ căn cứ buộc Nguyễn Thành N chịu trách nhiệm về số tài sản trên. Đối với chị Trần Thị Thanh T cho N mượn xe mô tô, anh Đặng Xuân Đ cho N mượn máy cưa điện nhưng không biết N sử dụng vào việc trộm cắp tài sản nên không xử lý hình sự là có cơ sở.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình

sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 12 năm 2021.

2. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 ổ

khóa bằng kim loại màu vàng hiệu Forus; 01 cây mỏ lết bằng kim loại màu trắng, phần răng có kẹp 01 đoạn khoen cửa bằng kim loại. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 2022/67 ngày 17/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)

3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Thành N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có

quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ