- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Minh H - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (đi…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trương Minh H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2026/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng về phần hình phạt đối với bị cáo Trương Minh H;
- Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Quản lý
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2026/HS-PT Ngày: 23 - 6 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng
Ông Hoàng Rung K’Nhơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nghị là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 155/2026/TLPT-HS ngày 21 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo Trương Minh H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2026/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng.
- Bị cáo có kháng cáo: Trương Minh H, sinh năm 1981 tại tỉnh Gia Lai; Nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã H, tỉnh Gia Lai; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố S, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; bị cáo có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Bản án sơ thẩm:
Do có nhu cầu mua 01 khẩu súng để bắn chim nên vào năm 2012, Trương Minh H đã liên hệ mua 01 khẩu súng hơi bắn đạn chì và được tặng kèm thêm 01 (kg) đạn chì từ một người (không rõ lai lịch), với giá tiền 8.000.000 đồng, bằng hình thức giao dịch trực tiếp tại thôn K, xã H, tỉnh Gia Lai. Sau khi nhận được súng và đạn, H mang về cất giữ tại nhà địa chỉ thôn K, xã H, tỉnh Gia Lai. Đến khoảng năm 2015, H cùng gia đình chuyển vào tỉnh Lâm Đồng sinh sống, H có mang theo súng, đạn trên và cất giấu trong góc phòng ngủ tại nhà ở tổ dân phố S, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 29/9/2025, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L đã triệu tập làm việc với Trương Minh H theo nội dung ủy thác điều tra của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T, H khai nhận cất giấu 01 khẩu súng trong phòng ngủ của mình tại nhà ở địa chỉ tổ dân phố S, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành thu giữ khẩu súng này.
Qua điều tra, H khai nhận từ năm 2015 đến cuối năm 2017, H sử dụng khẩu súng và 01 (kg) đạn chì để bắn chim nhiều lần tại khu vực rẫy thuộc tổ dân phố S, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến cuối năm 2017, H sử dụng hết số đạn chì nên không tiếp tục sử dụng nữa và cất giấu súng trong góc phòng ngủ của mình tại nhà ở tổ dân phố S, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng thì bị phát hiện, thu giữ.
Tại bản Kết luận giám định số 899/KL-KTHS ngày 08/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh L, xác định: “Khẩu súng có kích thước tổng thể 16cm x 116cm gửi giám định là súng trường hơi SLAVIA 631 cỡ nòng 4,5mm thuộc vũ khí quân dụng (Khẩu súng còn sử dụng để bắn được bình thường)”.
Vật chứng của vụ án: Một khẩu súng dài có kích thước 116cm x 16cm. Súng có bộ phận cò, trên thân súng có ký hiệu “Slavia 631”; súng có thước ngắm, đầu ruồi, nòng kim loại, báng liền với ốp lót tay dưới bằng gỗ màu nâu và được cố định với nòng súng bằng vòng kim loại màu bạc.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2026/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trương Minh H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 10/4/2026, bị cáo Trương Minh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo xin Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Vì hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ của bị cáo hiện đang bệnh, bị cáo là lao động chính trong gia đình, 02 con của bị cáo hiện đang học đại học.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2026/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Do có nhu cầu mua 01 khẩu súng để bắn chim nên vào năm 2012, bị cáo Trương Minh H đã liên hệ mua 01 khẩu súng hơi bắn đạn chì và được tặng kèm thêm 01 kg đạn chì từ một người (không rõ lai lịch), với giá tiền 8.000.000 đồng. Sau khi nhận được súng và đạn, bị cáo sử dụng khẩu súng để bắn chim nhiều lần tại khu vực rẫy thuộc tổ dân phố S, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến cuối năm 2017, bị cáo sử dụng hết số đạn chì nên không tiếp tục sử dụng nữa và cất giấu súng trong góc phòng ngủ tại nhà của bị cáo ở tổ dân phố S, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành điều tra, xác minh và phát hiện.
Theo Kết luận giám định số 899/KL-KTHS ngày 08/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh L thì khẩu súng do bị cáo tàng trữ là “súng trường hơi SLAVIA 631 cỡ nòng 4,5mm thuộc vũ khí quân dụng (Khẩu súng còn sử dụng để bắn được bình thường)”.
Với hành vi phạm tội như trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Trương Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo cũng thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng, không oan, nên chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt từ 01 năm đến 07 năm tù, nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra, truy tố và tại các phiên tòa sơ và phúc thẩm, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ súng hơi chỉ nhằm mục đích là dùng để đi săn. Ngoài ra, khi Cơ quan điều tra Công an tỉnh L tiến hành điều tra, xác minh theo yêu cầu của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, bị cáo đã chủ động hợp tác và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Mặt khác, hoàn cảnh gia đình của bị cáo hiện đang khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình; bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trên, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự; nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo lao động đảm bảo cuộc sống gia đình; đồng thời để thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao.
Về xử lý vật chứng: Đối với khẩu súng là vật chứng trong vụ án, Bản án sơ thẩm tuyên giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh L xử lý theo quy định là chưa đầy đủ nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm cần sửa lại cách tuyên án cho phù hợp, để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355; các điểm d, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trương Minh H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2026/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng về phần hình phạt đối với bị cáo Trương Minh H;
Tuyên bố: Bị cáo Trương Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 Tòa án nhân dân tối cao;
Xử phạt: Bị cáo Trương Minh H 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/6/2026.
Giao bị cáo Trương Minh H cho Ủy ban nhân dân phường X – Đ, tỉnh Lâm Đồng là nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024;
Tịch thu và giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự chủ trì, phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh L xử lý theo quy định đối với: 01 (một) khẩu súng Slavia 631 có kích thước tổng thể 16cm x 116cm. Súng có bộ phận cò, trên thân súng có ký hiệu “Slavia 631” “CAL 4,5 477593”; súng có thước ngắm, đầu ruồi, nòng kim loại, báng liền với ốp lót tay dưới bằng gỗ màu nâu và được cố định với nòng súng bằng vòng kim loại màu bạc.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/12/2025 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh L và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh L).
3. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Trương Minh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2026/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (23/6/2026).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TA, VKS, THA khu vực 1 – Lâm Đồng; - Những người tham gia tố tụng; - PC01, PV06 - Công an tỉnh Lâm Đồng; - UBND phường Xuân Hương – Đà Lạt; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP, Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |