vanban.org

Bản án 145/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Q.

Về hôn nhân: Xử cho ông Triệu Q được ly hôn với bà Lâm Thị L. Về con chung: Không có.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấ hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Q.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 3 - 2026
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Rực.

Ông Đỗ Văn Quân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tiêu Thanh Nhi – Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 97/2026/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2026, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 25 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Triệu Q; Sinh năm: 1992. Địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố Cần Thơ (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Lâm Thị L; Sinh năm: 1995. Địa chỉ: ấp M, xã T, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 01 năm 2026, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Triệu Q trình B:

Về hôn nhân: Nguyên vào năm 2020 ông Triệu Q và bà Lâm Thị L tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, thành phố Cần Thơ) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 39 ngày 16/3/2020. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân vô cùng hạnh phúc, nhưng đến tháng 01/2025 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống trong cuộc sống, không tìm thấy tiếng nói chung, nên dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Nay ông Q xét thấy tình cảm vợ chồng giữa ông và bà L không còn, nên ông Q yêu cầu ly hôn với bà L; Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông Q và bà L không có con chung, nên ông Q không có yêu cầu gì; Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống ông Q và bà L không có tài sản chung và không có nợ chung, nên ông Q không có yêu cầu gì.

Bị đơn là bà Lâm Thị L đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ mà vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, bà L không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ nhận định:

Về thủ tục tố tụng: [1.1] Bà Lâm Thị L là bị đơn trong vụ án, bà L đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiến hành xét xử vắng mặt bà L.

[1.2] Đối với nguyên đơn ông Triệu Q đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiến hành xét xử vắng mặt ông Q.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Triệu Q và bà Lâm Thị L là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nhưng ông bà không có gặp nhau để bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 01 năm 2026, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q yêu cầu được ly hôn với bà L là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của ông Q. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho ông Q được ly hôn với bà L.

Về con chung: Trong thời gian chung sống ông Q và bà L không có con chung, ông Q không có yêu cầu gì về con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Q không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Triệu Q phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Bà Lâm Thị L không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Q.

1. Về hôn nhân: Xử cho ông Triệu Q được ly hôn với bà Lâm Thị L.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Q không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Triệu Q là người đồng bào thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp tiền án phí, nên ông Q được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên không thuộc trường hợp được hoàn lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm; Bà Lâm Thị L không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Ông Triệu Q và bà Lâm Thị L có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ