- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2025/DS-ST Ngày 17 tháng 12 năm 2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thành Phước và bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên tòa: ông Lâm Quang Trực – Là Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 10 - tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 –An Giang: bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 223/2025/TLST-DS ngày 21/10/2025 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 328/2025/QĐXXST-DS ngày 17/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 273/2025/QĐ-ST ngày 03/11/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967
Địa chỉ: ấp H, xã P, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: bà Trần Thị N, sinh năm 1958
Địa chỉ: ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn ông T có mặt. Bị đơn bà N vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Vào ngày 30/9/2023, bà Trần Thị N có hỏi mượn của ông số tiền 95.000.000 đồng, do là chỗ quen biết nên không tính lãi suất, thời hạn vay là ngày 25/4/2025 âl bà N sẽ trả hết số tiền trên. Hai bên có làm “Giấy biên nhận tiền” và bà N có ký tên và ghi rõ họ tên. Đến tháng 02/2024, bả Nở có trả được cho ông 30.000.000 đồng và ngưng cho đến nay mặc dù ông có đòi nhiều lần. Ông đã tìm gặp nhưng bà N chỉ hứa hẹn nhưng đến nay vẫn chưa trả. Việc bà N mượn tiền nhưng không trả đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T.
Tại đơn khởi kiện, ông Nguyễn Văn T yêu cầu bà Trần Thị N phải trả số tiền 65.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày 30/9/2023 cho đến nay.
Tại phiên tòa ông T xin rút lại phần yêu cầu tính lãi suất. Các yêu cầu khác vẫn giữ nguyên.
- Về phía bị đơn bà Trần Thị N: Tòa án đã tổng đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho bà N nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay bà N vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của ông T.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời hạn chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng mối quan hệ pháp luật, thụ lý và giải quyết đúng theo quy định tại Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý hồ sơ Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ khi tiến hành lập hồ sơ, ban hành các thông báo, xác định đúng tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng và tống đạt, niêm yết cho đương sự theo quy định tại. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình là vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 147, điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điều 463, điều 466, điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; điều 27 Ngị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với bà Trần Thị N. Theo đó buộc bà Trần Thị N có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền vay 65.000.000 đồng.
Đình chỉ yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: nguyên đơn ông Nguyễn Văn T có đơn khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị N phải trả số tiền vay 65.000.000 đồng và lãi suất; bị đơn bà Trần Thị N có đăng ký nơi thường trú tại ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về “Hợp đồng vay tài sản” sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về tố tụng: bị đơn bà Trần Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà bà N.
Về nội dung: Giấy biên nhận tiền ngày 30/9/2023 được xác lập giữa ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị N là trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Việc giao nhận tiền vay giữa ông T và bà N đã hoàn thành nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Theo ông T, từ khi vay tiền đến nay bà N chỉ trả được cho ông 30.000.000 đồng tiền vốn vào tháng 02/2024, số tiền còn lại cho đến nay bà N vẫn chưa trả mặc dù ông có đòi nhiều lần.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện Tòa án đã nhiều lần mời bà N đến để hòa giải, đối chiếu khoản nợ với ông T nhưng bà N vắng mặt không lý do. Như vậy phía bà N không cung cấp chứng cứ nào để phủ nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và đồng thời đến thời điểm này cũng không cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào thể hiện đã thực hiện xong số nợ trên cho ông T. Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự quy định “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…”. Như vậy việc bà N vay tiền của ông T nhưng không trả đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu khởi kiện của ông T là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bà N có trách nhiệm trả cho ông số tiền vốn gốc là 65.000.000 đồng
Về lãi suất: tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án ông T yêu cầu bà N trả lãi suất đối với số tiền vay theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ông T xin rút lại, không yêu cầu bà N trả tiền lãi. Xét thấy, việc rút yêu cầu trả lãi suất của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật nên được chấp nhận, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với phần rút yêu cầu này.
Từ những phân tích trên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang là có căn cứ.
Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
- Buộc bà Trần Thị N có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu trả lãi suất.
3. Về án phí:
- Bà Trần Thị N phải chịu 3.250.000 đồng (ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí nên được nhận lại 1.625.000 đồng (một triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005326 ngày 21/10/2025 của cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
4. Về quyền kháng cáo:
- Ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bà Trần Thị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 10; - Phòng THADS khu vực 10; - Các đương sự - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |